Tiếng Việt có logic không? Khi câu trả lời dừng lại quá sớm

Hồng Diễm

·

Hồng Diễm · Đào tạo giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, người sáng lập phương pháp Tiếng Việt Sống

Tranh vải khâu: người giáo viên bị ba sợi chỉ đỏ quấn đến chóng mặt, bà, chồng và con lần lượt hỏi «Đi đâu đấy?», «Em đi đâu vậy?», «Mẹ đi đâu thế?»

Sau một buổi học, có bạn giáo viên nán lại kể mình nghe chuyện vừa tranh luận với mấy đồng nghiệp. Nhóm kia cho rằng tiếng Việt tuỳ tiện quá, lúc nói thế này, lúc nói thế kia, nên rất khó dạy cho người nước ngoài. Bạn ấy thì tin chắc tiếng Việt có quy luật, vì qua thực tế đứng lớp, bạn thấy người Việt không hề nói bừa. Rồi nhóm kia hỏi lại: “Thế quy luật ấy nằm ở đâu? Bằng chứng đâu, nghiên cứu nào?”

Đến câu đó thì bạn ấy dừng lại.

Mình nghe mà thấy chuyện này rất quen. Bạn giáo viên ấy không sai khi tin như vậy, vì thời gian đứng lớp đã cho bạn ấy không ít quan sát đáng tin. Nhưng tin rằng có quy luật và chỉ ra được quy luật là hai việc khác nhau. Muốn làm được việc thứ hai, kinh nghiệm thôi chưa đủ, mà mình còn cần biết cách tìm hiểu, kiểm chứng và diễn đạt điều mình quan sát được.

Và đó cũng là lúc giáo viên hay lúng túng nhất: khi học viên hỏi tiếp “Tại sao?”.

Tiếng Việt có logic không? Tiếng Việt có những hệ thống quy tắc và quy ước riêng, đã được nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu, mô tả. Điều đó không có nghĩa câu nào cũng chỉ có một đáp án duy nhất, nhưng cũng không có nghĩa người Việt chọn chữ một cách tuỳ tiện. Nhiều khi, tiếng Việt có vẻ “tuỳ tiện” chỉ vì quy luật nằm ở những chỗ người bản ngữ dùng hàng ngày mà chưa bao giờ phải gọi tên nó rõ ràng.

Những câu trả lời nghe rất hợp lí

Trước đó ít lâu, mình có viết một bài ngắn trên Facebook về chuyện liệu có phải tiếng Việt tuỳ tiện nên khó dạy hay không. Bài viết nhận được chừng vài mươi bình luận, và mình đọc đi đọc lại mấy lượt.

Điều mình để ý là gần như không ai khẳng định thẳng rằng tiếng Việt tuỳ tiện cả, nhưng khi gặp câu hỏi “Tại sao?”, nhiều người vẫn trả lời bằng một trong ba cách:

  • “Do thói quen.” Người ta quen nói kiểu nào thì nói kiểu đó.
  • “Do vùng miền.” Bắc nói thế này, Nam nói thế kia.
  • “Đều được cả.” Có bạn còn viết: nếu cái gì cũng hỏi tại sao thì sao cả thế giới không nói chung một thứ tiếng.

Ba câu này nghe rất hợp lí, và đúng là câu nào cũng có phần đúng. Thói quen có thật, khác biệt vùng miền có thật, và có những trường hợp hai cách nói đều dùng được hết.

Nhưng lúc nào những câu trả lời ấy mới thật sự giúp được người học?

Mình hay tự hỏi một câu rất đơn giản: Nghe xong giáo viên trả lời, học viên có biết lần sau nên nói thế nào không?

“Do vùng miền” chỉ thực sự hữu ích khi mình nói rõ được trong cùng một tình huống, người ở vùng này thường chọn cách nói nào, người ở vùng khác có thể chọn cách nói nào.

“Do thói quen” cũng cần được nói rõ hơn: thói quen của ai, xuất hiện trong hoàn cảnh nào, có ổn định hay không? Khi một cách dùng được cả cộng đồng duy trì trong những điều kiện nhất định, mình có cơ sở để tìm hiểu xem đằng sau nó có quy luật nào không.

Còn “đều được” thì sao? Được trong tình huống nào, với ai, và sắc thái có khác nhau không? Hai câu có thể cùng dùng được mà không phải lúc nào cũng thay thế cho nhau được.

Nếu nghe xong mà học viên vẫn không biết lần sau nên chọn câu nào, có lẽ mình mới gọi tên được hiện tượng mà thôi, chứ chưa giải thích được nó.

Người Việt biết dùng, nhưng chưa chắc đã biết giải thích

Trong luồng bình luận ấy có một bình luận vui mà mình nhớ mãi. Bạn ấy kể: mẹ chồng hỏi “đi đâu đấy?”, chồng hỏi “em đi đâu vậy?”, con hỏi “mẹ đi đâu thế?”.

Bạn ấy viết cho vui thôi, chẳng định chứng minh điều gì. Vậy mà mỗi người hỏi một chữ, đọc lên ai cũng gật gù vì thấy quen thuộc như ngoài đời. Không ai dạy bạn ấy rằng mẹ chồng phải hỏi thế này, chồng phải hỏi thế kia. Bạn ấy cứ thế mà viết.

Đó cũng là một nghịch lí rất quen của nghề mình. Người Việt nói tiếng Việt thành thạo là vậy, nhưng khi phải giải thích một câu cho người nước ngoài, nhiều khi lại bỗng dưng… mất tiếng.

Người nói có thể không ý thức rõ mình vừa cân nhắc những gì. Phần lớn việc chọn chữ diễn ra tự động, lại chịu ảnh hưởng của vùng miền, ngữ điệu và thói quen riêng. Nhưng ví dụ này gợi ra một câu hỏi đáng tìm hiểu: Quan hệ giữa người nói và người nghe góp phần định hướng cách chọn chữ đến mức nào?

Trong Tiếng Việt Sống, mình gọi nhóm quy luật liên quan đến việc xác định vị trí của mình trong quan hệ giao tiếp là Hệ định vị quan hệ. Trước khi chọn cách nói, người nói ít nhiều phải xử lí câu hỏi: mình đang nói với ai, và hai người là gì của nhau?

Người bản ngữ thường xử lí những điều này rất nhanh, gần như không cần nghĩ thành lời. Người học nước ngoài thì chưa có phản xạ tương tự, nên họ cần giáo viên giúp nhận ra những điều mà người bản ngữ vẫn làm một cách quá tự nhiên.

Muốn giúp học viên nhìn ra điều đó, trước hết giáo viên phải biết tự hỏi: mình chọn cách nói này vì có cơ sở nào, hay đơn giản vì từ bé đến giờ mình vẫn nói thế? Nếu học viên hỏi tiếp “Vậy lúc nào em dùng câu kia?”, mình sẽ trả lời ra sao?

Từ tranh luận đến công việc của giáo viên

Đến đây, câu chuyện không còn chỉ là chuyện tranh luận đúng sai nữa. Nó trở thành chuyện nghề rồi.

Dùng tiếng Việt thành thạo là một năng lực. Nhận ra quy luật trong một hiện tượng, giải thích bằng ngôn ngữ người học A2 có thể hiểu, rồi thiết kế hoạt động để họ thực sự dùng được điều đó lại là một năng lực khác.

Còn để phân tích, giải thích và biến hiểu biết ấy thành bài dạy hiệu quả, giáo viên cần học và luyện tập.

Đọc lại luồng bình luận, mình còn để ý thấy mọi người khá quan tâm đến việc dẫn chứng. Người thì nhắc đến sách của trường đại học, người kể mình đang học thạc sĩ, còn bạn giáo viên ở đầu câu chuyện bị hỏi thẳng “Nghiên cứu nào?”. Mình thấy điều đó là cần thiết, vì nghề dạy cần tinh thần dựa trên căn cứ chứ không phải theo phỏng đoán chủ quan. Nhưng có một điểm cần phân biệt: bằng chứng cho thấy tiếng Việt có hệ thống không tự động chứng minh mọi lời giải thích của mình về một hiện tượng cụ thể đều đúng.

Có thể nhìn vấn đề qua hai tầng:

Tầng thứ nhất: Tiếng Việt có hệ thống hay không?
Câu hỏi này đã được nghiên cứu trong nhiều công trình từ trước đến nay, từ cấu trúc câu, cách xưng hô đến những từ ngữ thể hiện sắc thái và thái độ trong giao tiếp, như nhé, nhỉ, à, ạ. Mình để một số tài liệu tham khảo ở cuối bài cho bạn nào muốn tìm hiểu sâu hơn nữa.

Tầng thứ hai: Lời giải thích của mình cho một hiện tượng cụ thể có đúng không?
Một cuốn sách ngữ pháp tổng quát chưa đủ để khẳng định cách mình giải thích ba từ đấy, vậy, thế là đúng. Muốn biết lời giải thích ấy có đứng vững hay không, mình cần xem xét những câu người Việt thực sự dùng, hoàn cảnh xuất hiện của chúng và các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến hiện tượng đó, nếu có.

Ngôn ngữ học không cần chứng minh tiếng Việt chặt chẽ như một bài toán mới có thể nghiên cứu nó. Việc cần làm là tìm ra những quy luật, điều kiện sử dụng và cả giới hạn của từng cách giải thích.

Vì vậy, nếu đọc ở nhiều nơi mà thấy mỗi trang giải thích một kiểu, mình cũng đừng vội chọn ngay lời giải thích nghe xuôi tai nhất. Hãy thử hỏi: người viết dựa vào dữ liệu nào, đang nói về tình huống nào, và cách giải thích ấy còn bỏ sót điều gì?

Một ví dụ đời thường có thể giúp mình nhận ra vấn đề, nhưng để kết luận về quy luật thì một ví dụ thường là vẫn chưa đủ.

Sẽ luôn có những câu hỏi của học viên mà mình chưa tìm được câu trả lời sẵn trong sách. Lúc ấy, điều quan trọng là trung thực với điều mình biết và cả điều mình chưa chắc chắn.

“Ba câu này không thay nhau tuỳ tiện được đâu em. Điều cô thấy rõ nhất là chữ cuối câu đổi theo người hỏi: mẹ chồng hỏi con dâu một kiểu, chồng hỏi vợ một kiểu, con hỏi mẹ lại một kiểu. Vùng miền và ngữ điệu cũng góp phần, phần đó cô đối chiếu thêm rồi sẽ nói em thật chính xác. Còn bây giờ, trước khi hỏi ai câu này, em cứ tự hỏi trước: người đó là gì với mình?”

Nói như thế, giáo viên vừa cho học viên một điểm tựa dùng được ngay, vừa cho họ thấy một người dạy học nghiêm túc tìm hiểu vấn đề như thế nào, chứ không phải nhận về một câu trả lời nghe có vẻ chắc chắn nhưng chưa có đủ căn cứ.

Đó cũng là việc mình cùng các giáo viên thực hành trong suốt quá trình đào tạo: quan sát một hiện tượng, đặt giả thuyết, tìm cách kiểm chứng và xem lời giải thích ấy có giúp học viên dùng tiếng Việt tốt hơn không.

Không phải để tìm ra một công thức giải thích được tất cả, mà để mỗi lần gặp câu hỏi “Tại sao?”, giáo viên biết mình cần tìm hiểu tiếp từ chỗ nào.

Câu hỏi cần đặt ra

Cho nên, câu đáng hỏi không chỉ là “Tiếng Việt có logic không?”.

Câu đáng hỏi hơn là: khi chưa giải thích được một hiện tượng, mình có biết cách tìm hiểu tiếp không? Và khi tìm ra được điều gì đó, mình có biến nó thành kiến thức giúp học viên sử dụng tiếng Việt tốt hơn không?

Lần tới, khi định trả lời “do thói quen”, “do vùng miền” hay “đều được cả”, bạn thử dừng lại một giây nhé. Biết đâu, điều học viên cần không phải một câu trả lời nhanh hơn, mà là một giáo viên biết hỏi tiếp.

Đọc thêm: “Lời nguyền” của người bản ngữ · “Đi ăn đi” hay “đi ăn nhé”: hai câu tưởng song sinh, mà sao cảm giác lại khác hẳn? · Vì sao người Việt cái gì cũng “tùy”?

Câu hỏi thường gặp

Tiếng Việt có ngữ pháp không, hay “nói sao cũng được”?
Có. Tiếng Việt có hệ thống ngữ pháp riêng, dù cách thể hiện khác với tiếng Anh. Chẳng hạn, tiếng Việt không biến đổi hình thức động từ theo thì như tiếng Anh, nhưng trật tự từ, hư từ và cách tổ chức câu vẫn tuân theo những quy tắc nhất định. Nhiều công trình đã nghiên cứu và mô tả các đặc điểm này, trong đó có Cao Xuân Hạo (1991) và Thompson (1965/1987).

Vì sao người Việt nói đúng mà không giải thích được tại sao?
Vì sử dụng ngôn ngữ thành thạo và phân tích được cách mình sử dụng ngôn ngữ là hai năng lực khác nhau. Người bản ngữ thường vận dụng nhiều quy tắc một cách tự động, không cần gọi tên chúng. Giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cần phát triển thêm năng lực quan sát, phân tích và giải thích để giúp học viên hiểu và sử dụng ngôn ngữ.

“Đi đâu đấy”, “đi đâu vậy”, “đi đâu thế” có dùng thay cho nhau được không?
Không nên mặc định rằng ba cách nói này luôn thay thế được cho nhau trong mọi tình huống. Khi tìm hiểu sự khác biệt, có thể xem xét người đối thoại, quan hệ giữa hai người, vùng miền, ngữ điệu và thói quen sử dụng. Khi dạy học viên, tốt nhất là đặt các cách nói vào những tình huống cụ thể, thay vì chỉ trả lời “đều được”.

Trả lời “do thói quen” hay “do vùng miền” có sai không?
Không nhất thiết sai, nhưng thường chưa đủ để giải thích một hiện tượng. Về mặt dạy học, có thể hỏi thêm: nghe xong, học viên đã biết lần sau nên nói thế nào chưa? Còn về mặt chuyên môn, lời giải thích vẫn cần được xem xét dựa trên dữ liệu và những căn cứ phù hợp.


Hồng Diễm có 17 năm trực tiếp dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và 6 năm đào tạo giáo viên, cử nhân Ngôn ngữ học ứng dụng (ĐH KHXH&NV Hà Nội), người sáng lập phương pháp Tiếng Việt Sống.

Tài liệu tham khảo

Các tài liệu dưới đây cho thấy tiếng Việt đã được nghiên cứu, mô tả ở nhiều bình diện. Chúng không trực tiếp bàn về ba câu “đi đâu đấy, vậy, thế” trong bài.

Ngữ pháp và cấu trúc câu tiếng Việt

  1. Cao Xuân Hạo (1991). Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1. TP.HCM: NXB Khoa học Xã hội. (thư mục trên ngonngu.net)
  2. Thompson, Laurence C. (1965). A Vietnamese Grammar. University of Washington Press. In lại: A Vietnamese Reference Grammar, University of Hawai’i Press, 1987. (trang NXB)
  3. Nguyễn Đình Hoà (1997). Vietnamese. London Oriental and African Language Library 9. John Benjamins. (trang NXB)

Xưng hô và quan hệ xã hội trong giao tiếp
4. Luong, Hy V. (1990). Discursive Practices and Linguistic Meanings: The Vietnamese System of Person Reference. John Benjamins. (trang NXB)

Tình thái và sắc thái biểu đạt trong câu
5. Phạm Thuỳ Chi. Các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (luận án tiến sĩ). ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội. (trang trường)
6. Nguyễn Văn Hiệp (1994). “Tình thái ngữ trong hệ thống thành phần phụ của câu tiếng Việt”. Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội.