Chữ “ạ” khi có khi không…
Ai cũng bảo "ạ" là để lịch sự. Nhưng người Việt mình dùng nó theo một cách khác, kín hơn thế nhiều.

Đôi khi cả một mối quan hệ nằm gọn trong đúng một chữ ở cuối câu, mà người Việt mình rải ra mỗi ngày không hề để ý.
Mình rất hay để ý đến những tín hiệu nhỏ xíu khi nói chuyện với người khác.
Hôm đó gần như cùng một buổi, mình được hai người rủ đi ăn. Một người nhắn tin “trưa nay đi ăn nhé”, một người thì nói “đi ăn đi”. Đọc xong, tự nhiên thấy trong tai hơi gợn. Linh tính mách bảo có gì đáng chú ý ở đây rồi. Hai câu rủ giống nhau gần như từng chữ, mà sao nghe cứ khang khác. Câu trước nghe ấm, như một lời mời thành thật. Câu sau nghe là lạ, như thể có ai đang giục rồi đẩy nhẹ mình một cái.
Ủa, nhưng cụ thể khác nhau ở chỗ nào nhỉ?
Cái bệnh nghề nghiệp lại nổi lên. Mình nhẩm lại hai câu, thử bỏ bớt, thử đổi qua đổi lại xem thế nào. Cuối cùng thì tìm ra cái khác nằm ở đúng một chỗ, cái chỗ bé xíu mà bình thường mình lướt qua chẳng bao giờ để ý, là chữ cuối câu. Một bên là “đi”, một bên là “nhé”. Có mỗi thế thôi, vậy mà đổi luôn cả cảm giác.
Bạn thử để ý mà xem, gặp một chuyện như thế, phản xạ của gần như tất cả mọi người, kể cả người Việt mình, là cho qua: “À, người Việt quen nói vậy thôi”, “Cái này khó giải thích lắm”, “Nói riết thành quen ấy mà”. Nghe thì thành thật, mà thực ra đó là một cánh cửa vừa khép lại, bảo rằng chỗ này chẳng có gì để tò mò hiểu đâu, đừng hỏi làm gì nữa.
Nhưng mình thì vẫn cứng đầu, không tin là trên đời này không có gì để hiểu.

Chuyện lạ là thế này. Bạn thử dịch chữ “nhé” sang tiếng Anh xem. Bạn sẽ không tìm nổi một từ nào cho ra hồn, vì tự thân nó gần như chẳng có nghĩa gì cả. Chữ “đi” đứng cuối câu cũng vậy. Bỏ hai chữ đó ra thì câu vẫn đúng ngữ pháp, vẫn đủ nghĩa, nhưng chỉ cần thêm vào, cả câu bỗng đổi hẳn sức nặng.
Chính chỗ này làm cho rất nhiều người dạy tiếng Việt bị bí. Học viên hỏi “nhé nghĩa là gì”, thế là các bạn đi lùng một từ tiếng Anh tương đương để gán vào, tìm mãi không ra, đành nói “cái này khó lắm, em cứ nói nhiều rồi quen”. Thực chất mấy chữ bé xíu này là đặc sản riêng của tiếng Việt, mà tiếng Anh thì không có sẵn một cái ngăn nào để đặt chúng vào. Đi tìm một từ tương đương để dịch là coi như bất khả thi.
Tiếng Việt được coi là khó, bởi nhiều khi ý của câu lại nằm ở ngoài lời. Cái khác nhau giữa “đi ăn đi” và “đi ăn nhé” không nằm ở nghĩa của từ, mà nằm ở một chỗ khác, ở khoảng cách giữa người nói và người nghe.
“Đi ăn đi”, cái chữ “đi” ở cuối đẩy tới trước, giống như một bàn tay đặt sau lưng bạn rồi đẩy nhẹ một cái. Nó hợp khi người nói đang ở vai trên, hoặc thân với bạn đến mức không cần phải giữ ý, như mẹ gọi con “ăn cơm đi con”, như đứa bạn thân kéo tay “đi đi, ngại gì”. Nó không hỏi, nó giục.
“Đi ăn nhé” thì ngược lại. Cái chữ “nhé” bo tròn câu nói lại, chừa cho người kia một đường lui. Nó không kéo tay ai, chỉ mở cửa ra rồi đứng đợi. Người nghe vẫn còn nguyên quyền nói “thôi để hôm khác”. Đó là lời mời của một người đang giữ ý, đang đặt bạn ngang hàng với mình chứ không đứng bên trên.
Cùng một việc rủ nhau đi ăn, mà một câu thì như nắm cổ tay bạn kéo đi, một câu thì mở cửa rồi lùi lại nhường bạn bước. Bạn thử đọc lại hai lời rủ lúc nãy mà xem, giờ chắc bạn cũng nghe ra cái khang khác đó. Nó không phải là thứ mình tưởng tượng ra, mà nó có thật, và nó đến từ đúng một chữ.
Nếu chỉ là hai câu rủ đi ăn thôi thì đã không khiến mình dừng lại tò mò đến thế. Điều làm mình thích thú là cái tính tò mò ấy đã giúp mình phát hiện ra cả một mối quan hệ, gần hay xa, trên hay ngang, mời mọc hay sai bảo… vừa nãy đã nằm gọn trong đúng một chữ tưởng như chẳng có nghĩa gì.
Và tiếng Việt thì lại sẵn một kho những chữ như thế. Nhé, nhỉ, à, ạ, cơ, mà, thôi, nha… Người Việt mình rải chúng vào câu nói cả trăm lần mỗi ngày, chỉnh cái sức nặng của từng lời trong chưa tới một giây, mà gần như không ai biết mình đang làm. Mình chọn “nhé” hay chọn “đi”, chọn “ạ” hay không “ạ”, nhanh đến mức chính bản thân mình cũng không kịp thấy.
Bảo sao một người nước ngoài có thể nói một câu đúng chằn chặn về ngữ pháp, mà người Việt nghe vẫn thấy Tây Tây, hoặc thấy hơi sai sai, hoặc vô duyên một chút mà không chỉ ra được là cụ thể vô duyên ở chỗ nào. Họ không sai một từ nào cả. Họ chỉ thiếu cái gia vị vô hình đó, cái chữ bé xíu chở theo cả một mối quan hệ đó thôi.
Người Việt mình, dù nói tiếng Việt cả đời, lại thường rất khó giảng giải chuyện này cho người khác. Vì mình dùng được không có nghĩa là mình nhìn thấy được. Mình quen thuộc đến mức nó đã trở nên vô hình, cứ thế bật ra mà chẳng cần nghĩ ngợi. Ngay cả mình cũng phải ngồi lại, đọc đi đọc lại hai lời rủ đi ăn bình thường đó thì mới lần ra được manh mối ẩn trong cái chữ nhỏ nằm im đó đã bao nhiêu năm.
Mình vẫn hay nói với học viên rằng tìm kiếm tiếng Việt trong từ thì vô vọng, phải tìm ở nơi khoảng cách giữa người với người ấy. Hai câu rủ đi ăn giống hệt nhau, chỉ khác một chữ ở cuối, vậy mà đã đủ cho bạn biết người đang nói với bạn đứng gần hay đứng xa, coi bạn là người trên, người dưới hay người ngang hàng. Tiếng Việt chưa bao giờ chỉ là tiếng Việt. Nó luôn là cách người Việt đặt mình vào trong một mối quan hệ rất cụ thể, trước cả khi kịp mở lời.
Cái tầng “gia vị” đó, cách những chữ bé xíu như “nhé”, “ạ”, “cơ”, “mà” âm thầm chở cả mối quan hệ trong một câu nói đó, là một trong những thứ mình dành nhiều tâm sức nhất khi dạy tiếng Việt và khi hướng dẫn các giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Nó không nằm trong một quyển giáo trình nào cả, vì nó không phải đơn vị từ vựng hay ngữ pháp để học thuộc, mà nó là một cách nhìn.
Mình sẽ còn kể tiếp với bạn về những chữ nhỏ mà không nhỏ này, trong những bài sau.
Còn bây giờ thì thử để ý một chút mà xem. Từ giờ đến cuối ngày, bạn sẽ nói “nhé” bao nhiêu lần, và mỗi lần như thế, bạn đang mở cửa đứng đợi ai?
Ai cũng bảo "ạ" là để lịch sự. Nhưng người Việt mình dùng nó theo một cách khác, kín hơn thế nhiều.
Ai cũng nghĩ tiếng "dạ" là để lễ phép. Thử bỏ nghĩa đó đi mà nghe lại: một tiếng "dạ" là cách người Việt nhận ra nhau, trước khi nói với nhau.
Duyên tiếng Anh là gì? Luck, fate, destiny đều vênh. Thử liệt kê những động từ đi với chữ duyên, sẽ thấy người Việt giấu cả một cách nhìn đời trong đó.