Cách dạy từ vựng tiếng Việt cho người nước ngoài để học viên nhớ lâu và dùng được

Hồng Diễm

·

Học viên quên từ vựng nhiều khi không phải vì cô dạy chưa kĩ, mà vì từ ấy chưa lần nào được học viên tự nhớ ra để nói. Bài này chia sẻ 4 bước dạy từ vựng tiếng Việt cho người nước ngoài với chữ «rau» ở lớp A1, ba chỗ giáo viên hay trượt và căn cứ nghiên cứu về ôn tập cách quãng.

Học viên nước ngoài ngồi ở quán phở Việt Nam, đĩa rau ăn kèm đã hết, giơ tay ngập ngừng tìm từ để gọi người bán: minh hoạ cách dạy từ vựng tiếng Việt để học viên tự nhớ và dùng được
Từ lớp học ra ngoài đời: ở quán phở, học viên phải tự nhớ ra chữ «rau» để xin thêm.

Buổi trước, cô giơ hình đĩa rau lên, đọc mẫu, cả lớp nhắc theo năm lần liền, đều răm rắp, thế là cô yên tâm chuyển sang từ tiếp theo. Hôm nay cô hỏi lại, học viên ngập ngừng «ờ…» một lúc rồi lắc đầu.

Câu giáo viên hay nhắn hỏi mình nhất là: «Chị ơi, hay em dạy chưa kĩ?» Rồi buổi sau, cô lại cho học viên nhắc thêm vài lần nữa, cho chắc.

Mình để ý là nhiều khi giáo viên không dạy thiếu. Hình có, mẫu có, nhắc theo cũng đủ cả rồi, chỉ có một chỗ nằm ngay trước mắt mà rất ít ai nhìn ra, vì lúc ấy trông học viên đang học rất chăm chỉ.

Năm lần nhắc theo, lần nào cũng đến từ cô trước

Bạn thử đếm lại xem. Lần thứ nhất bạn nói «rau», học viên nói «rau». Lần thứ hai bạn nói, học viên nói theo. Đến lần thứ năm vẫn thế: chữ «rau» lần nào cũng đi ra từ miệng cô trước, rồi học viên mới nói lại. Suốt năm lần ấy, học viên chưa một lần nào phải tự lấy chữ «rau» ra để dùng.

Cho nên nhiều khi học viên không hẳn là quên từ, mà là do từ ấy chưa từng được học viên tự lấy ra, nên đến lúc cần thì không biết tìm nó ở đâu cả.

Ra khỏi lớp thì không còn ai nói trước nữa. Ở quán phở, khi đĩa rau ăn kèm đã hết, người bán đang tất bật với bàn bên cạnh, học viên muốn xin thêm thì phải tự nhớ ra chữ «rau» rồi dùng nó để nói điều mình cần. Không có hình cũng chẳng có cô giáo gợi ý, chỉ có cái đĩa trống trước mặt.

Nói cho gọn thì một từ mới có ba mức: nhận ra khi có gợi ý, tự nhớ ra khi không ai nhắc, và tự dùng được trong một tình huống thật. Ba mức nối vào nhau nhưng không phải là một. Nhắc theo năm lần trên lớp chủ yếu mới luyện và kiểm tra ở mức đầu mà thôi, thấy học viên trả lời được là yên tâm, chứ ít ai nghĩ đến mức hai, mức ba nữa.

4 bước dạy từ vựng để học viên tự nhớ và dùng được

Không cần soạn giáo án mới, bạn hãy lấy ngay một từ đang dạy. Cả bốn bước chỉ xoay quanh một điều: chữ «rau» phải đến từ học viên trước, cô chỉ hỗ trợ khi cần.

Bước 1. Đặt từ vào một tình huống cần dùng đến nó. Đừng chỉ hỏi «Đây là gì?». Hãy đưa ra một tình huống rất cụ thể mà học viên thật sự cần đến từ đang học: bát phở đã lên nhưng đĩa rau ăn kèm đã hết. Học viên cần nói gì để xin thêm?

Bước 2. Cho học viên thử trước, bí thì mới đưa khung. Để học viên thử nói trước. Nếu bí, đưa khung «Chị ơi, cho em thêm…» rồi chờ vài giây để học viên tự tìm chữ còn thiếu. Nếu vẫn chưa được thì cô mới gợi ý vừa đủ để học viên nói tiếp, rồi bớt dần hỗ trợ khi học viên đã làm được.

Bước 3. Đổi một chi tiết để học viên vận dụng lại. Bạn ngồi cạnh cũng hết rau. Lúc này hãy xem học viên có tự điều chỉnh câu vừa học để xin thêm rau cho bạn không: «Chị ơi, cho bạn em thêm rau.»

Bước 4. Kiểm tra lại sau một quãng. Cuối buổi hoặc buổi sau, đưa chữ «rau» trở lại trong một tình huống khác, đi chợ chẳng hạn. Lần này đừng cho sẵn khung câu, cứ xem học viên có tự nhớ ra từ và dùng được trong tình huống mới không. Nếu chưa thì hỗ trợ một chút rồi để một quãng nữa thử lại.

Bốn bước ấy nghe thì đơn giản, nhưng lúc đứng lớp thực tế lại có mấy chỗ rất dễ mắc sai lầm mà nhiều giáo viên không hay.

Ba chỗ hay trượt khi áp dụng

Gợi ý quá sớm. Học viên vừa im lặng hai giây, cô đã nhắc khẽ «rau… rau…». Thế là chữ «rau» lại đến từ cô trước, đúng cái vòng mình đang muốn thoát ra, như vậy là cô giáo cũng chẳng còn cách nào để biết học viên có tự truy xuất được từ ấy không. Nếu học viên đang cố nhớ thì cứ cho thêm vài giây, còn nếu học viên chưa hiểu nhiệm vụ mình cần làm gì, thì cái cần gợi ý là yêu cầu, chứ chưa phải là đưa ra từ vựng.

Đổi nhiều thứ cùng lúc. Đang ở quán phở, cô chuyển luôn sang quán bún, người bán từ chị đổi thành anh, lại thêm cả chữ «giá» vào. Học viên không trả lời được lúc ấy chưa chắc là đã quên chữ «rau», có khi chỉ là lúng túng với cảnh mới, người mới, chữ mới. Muốn biết học viên có dùng được từ không thì mỗi lần chỉ đổi một chi tiết.

Kiểm tra lại ngay. Vừa luyện xong, cô hỏi lại, học viên trả lời vanh vách, cô yên tâm chuyển sang phần khác. Nhưng trả lời đúng ngay sau khi luyện thì lúc này chữ vẫn còn vang trong tai, nó chưa kiểm tra được sau một quãng học viên có còn tự nhớ ra hay không. Phải đợi đến cuối buổi hoặc buổi sau, cho lại tình huống để học viên sử dụng thêm một lượt từ «rau» ấy, thì mới thấy rõ được. Đó gọi là luyện tập cách quãng.

Nghiên cứu nói gì

Rice và Tokowicz (2020) tổng hợp các nghiên cứu về việc luyện từ vựng ngoại ngữ ở người học trưởng thành, đăng trên tạp chí Studies in Second Language Acquisition của Nhà xuất bản Đại học Cambridge. Bài tổng quan cho thấy những cách luyện chỉ dựa vào việc lặp đi lặp lại dồn trong một lúc thường ít hiệu quả nếu đứng một mình, còn khi kết hợp với việc người học tự nhớ lại từ và được ôn tập cách quãng thì có thể hỗ trợ việc học từ tốt hơn hẳn.

Phần lớn các nghiên cứu ấy được làm trong phòng thí nghiệm, nên bốn bước ở trên là cách mình vận dụng những nguyên lí này vào một tình huống dạy học cụ thể trong lớp học tiếng Việt. Bạn có thể áp dụng vào lớp thực tế của bạn, quan sát phản ứng thế nào rồi điều chỉnh sao cho phù hợp.

Đổi một câu hỏi

Lần tới, trước khi đưa hình ảnh ra, bạn thử hỏi chính mình một câu: ra khỏi lớp, học viên sẽ cần từ này trong tình huống nào? Trả lời được rồi thì câu hỏi dành cho học viên cũng tự đổi theo.

Hỏi «Đây là gì?» thì chỉ biết được học viên đã nhận ra hay không nhận ra từ. Đặt học viên vào một tình huống cụ thể rồi hỏi «Em cần nói gì trong tình huống này?», bạn mới thấy được học viên có tự nhớ ra và thật sự dùng được từ ấy không.

Với một từ, bạn có thể thử cách này ngay buổi tới nhé. Còn để thiết kế cả một buổi học hoàn chỉnh từ một tình huống thật, giáo viên phải tính thêm trình tự các hoạt động, cách hỗ trợ khi học viên bị kẹt, và biết dựa vào đâu để thấy học viên đã thật sự làm được hay chưa. Đó cũng là điều mình chú trọng trong Bài Dạy Sống: mỗi bài có một đầu ra rõ ràng là việc học viên làm được, mỗi bước có hướng dẫn khi học viên bị kẹt, ngoài slide còn có ghi chú để giáo viên biết cách triển khai từng hoạt động.

Đọc thêm: Vì sao học viên thuộc mẫu câu từ chối mà vẫn chưa biết từ chối? · Thomas đi ăn cưới và hai chữ “trăm phần trăm” · “Đọc vị” giáo án

Hồng Diễm
Từ dạy ngôn ngữ đến hiểu con người


Nguồn: Rice, C. A., & Tokowicz, N. (2020). A Review of Laboratory Studies of Adult Second Language Vocabulary Training. Studies in Second Language Acquisition, 42(2), 439–470. Cambridge University Press.