
Sống cùng người Việt, người nước ngoài phải từ chối đủ thứ: lời rủ đi ăn, miếng được gắp thêm, việc được nhờ, lời chào mời. Thuộc mẫu câu thôi chưa đủ, vì câu đúng ngữ pháp chưa chắc đã hợp với người nghe. Từ chối là một năng lực giao tiếp, đáng được dạy thành một bài riêng khi dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.
Có một cảnh mình gặp lại khá nhiều lần khi xem video dạy của các giáo viên. Trong lớp, giáo viên đóng vai đồng nghiệp, hỏi học viên: “Tối nay đi chơi nhé?”. Học viên nghĩ một chút rồi đáp: “Không. Em bận”. Giáo viên gật đầu khen một câu rồi chuyển sang lời mời tiếp theo.
Mình chỉ hay tự hỏi: lúc gật đầu khen, cô đang xác nhận điều gì? Học viên đã nói đúng một câu, hay thực sự đã biết từ chối trong tình huống ấy?
Lời từ chối trong lớp không làm ai mất gì
Trong lớp, cô biết học viên đang luyện, học viên cũng biết cô không mời thật, cho nên câu “Không. Em bận” được xem như một câu trả lời đúng, chứ chưa hẳn được xem như một lời từ chối trong tình huống thực tế.
Với một câu từ chối, thật ra có ba điều mình có thể chấm: câu ấy có đúng không, người nghe có hiểu học viên đang từ chối không, và cách nói ấy có hợp với người nghe trong hoàn cảnh đó không.
Hai điều đầu thì giáo viên mình thường chấm được ngay, còn điều thứ ba lại ít khi được hỏi đến. Bởi trong lớp, người đang mời lúc nào cũng là cô, mà cô thì thường không phật lòng với học viên của mình.
Chuyện thường ngày, mà ít khi có ai nói lại
Ra khỏi lớp thì khác. Sống ở Việt Nam, người nước ngoài được mời đủ thứ: đồng nghiệp rủ ăn trưa, hàng xóm rủ sang uống nước, đang đi ngang qua cũng được gọi vào ngồi một lát, đến lúc ngồi vào mâm thì được gắp thêm, rót thêm; có việc thì được nhờ; ra chợ thì được chào mời.
Với người Việt, mời mọc, rủ rê, gắp cho nhau cũng là một cách thể hiện sự quan tâm. Vì thế, học viên có thể phải từ chối gần như hàng tuần, ngay trong những mối quan hệ họ cần duy trì: đồng nghiệp, bạn bè, hàng xóm.
Thêm một cái là ngoài đời có một điều khác hẳn trong lớp. Nói sai một chữ thì thường có người sửa ngay, nhưng một câu đúng chữ mà chưa hợp với người nghe thì lại rất khó nhận thấy. Người đối diện có thể chỉ cười, đáp ngắn rồi chuyển sang chuyện khác, vì chẳng ai muốn làm người đang cố nói tiếng Việt với mình phải ngượng.
Học viên không biết câu nói của mình vừa được đón nhận thế nào, nên có thể cứ thế dùng tiếp với đồng nghiệp, hàng xóm, thậm chí cả bố mẹ người yêu. Không ai nói lại chưa chắc là học viên đã làm hỏng chuyện gì, nhưng cũng vì không có phản hồi nên họ khó biết được cách nói ấy có thực sự phù hợp hay không.
Một lỗi sai từ được sửa ngay thì học viên còn có cơ hội nhận ra và sửa lại, còn một cách nói không phù hợp mà không ai góp ý có thể theo họ rất lâu. Họ vẫn vô tư dùng mà không biết cách nói ấy đôi khi có thể ảnh hưởng đến những mối quan hệ của mình.
Câu không đổi, người nghe đổi
Bạn thân rủ đi cà phê, học viên đáp “Không. Em bận” có khi chẳng sao, vì hai người đủ thân để một câu ngắn không thành to chuyện. Nhưng nếu chị đồng nghiệp mới vào làm rủ đi ăn trưa chẳng hạn, cũng câu ấy lại khiến cho chị có thể cảm nhận khác.
Câu không đổi, nhưng người nghe đổi thì cách nói cũng phải đổi. Vậy nên mới nói học viên không thể chỉ học thuộc một câu mẫu rồi dùng với tất cả mọi người, trong mọi tình huống được.
Để ý cách người Việt từ chối, mình thường thấy người nói phải xử lí hai việc cùng lúc: cho người kia biết mình không nhận lời, và giữ cho mối quan hệ vẫn ở mức mình mong muốn. Có lúc một nụ cười là đủ, có lúc cần thêm lời cảm ơn hoặc một lí do ngắn. Câu “Không. Em bận” có thể đã làm rõ việc mình không đi, nhưng chưa chắc đã đáp ứng được điều thứ hai trong mọi hoàn cảnh.
Không phải lúc nào nói vòng cũng lịch sự hơn. Cách nói còn tùy người, tùy lúc. Nếu đã được mời đến lần thứ ba, thứ tư mà vẫn chỉ nói “để hôm khác” thì một câu từ chối rõ ràng có khi lại tử tế hơn nhiều.
Từ chối là một năng lực đáng để đưa vào bài dạy
Một nghiên cứu trong lĩnh vực dạy ngoại ngữ xem từ chối là một hành vi ngôn ngữ khó đối với người học và cho rằng nên đưa việc luyện tập này vào lớp học (Eslami, 2010).
Vậy mà trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, cách từ chối dường như chưa được tách thành một nội dung dạy học riêng. Đây cũng là một trong những tình huống mình thấy người học có thể lúng túng khi bắt đầu va chạm với cuộc sống ở Việt Nam.
Một nghiên cứu công bố năm 2017 khảo sát 31 sách, giáo trình tiếng Việt cơ bản cho người nước ngoài và xác định 12 nhóm nghi thức lời nói xuất hiện trong phạm vi tư liệu được khảo sát, từ chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi đến mời, chúc, đáp lời khen. Từ chối không được nêu thành một nhóm riêng trong danh sách phân loại ấy (Lương Ngọc Khánh Phương, Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TP.HCM). Điều đó khiến mình tự hỏi: học viên đã được luyện cách từ chối như một năng lực giao tiếp chưa, hay mới chỉ gặp vài mẫu câu rải rác trong những bài học khác?
Nếu lớp học cũng bỏ qua, ai sẽ chỉ cho học viên?
Lớp học có thể là một trong số ít nơi học viên được chỉ ra những khác biệt tinh tế như thế này.
Nhưng đôi khi, ngay cả giáo viên cũng chỉ cảm thấy học viên nói chưa giống cách người Việt thường nói, chứ chưa gọi được đúng tên điều khiến câu nói nghe hơi sai sai, hơi kì kì. Câu nói quá thẳng? Chưa hợp với quan hệ giữa hai người? Hay người nghe chưa rõ học viên đang từ chối điều gì?
Khi chưa biết vấn đề nằm ở đâu, giáo viên rất dễ tặc lưỡi cho qua: “Thôi, người nước ngoài mà.” Nhưng chưa gọi tên được vấn đề thì cũng khó biết cần dạy điều gì, tạo tình huống nào cho học viên luyện và dựa vào đâu để nhận xét họ đã tiến bộ.
Từ chối chỉ là một ví dụ mà thôi, ngoài ra còn nhiều năng lực giao tiếp ngầm khác trong tiếng Việt cũng có thể bị bỏ qua theo cách ấy: người dạy nhận ra có điều gì đó chưa ổn, nhưng chưa biết gọi tên, phân tích rồi biến nó thành một bài học như thế nào.
Nhận ra vấn đề đã là một bước, còn để biến một tình huống đời thực thành một buổi học có mục tiêu, có tiến trình luyện tập và có cách hỗ trợ khi học viên lúng túng thì tốn công hơn nhiều.
Bài “Từ chối lời mời mà vẫn giữ thiện cảm” trong Gói 01 “Nói đúng từ, hiểu sai ý” bắt đầu từ những lời rủ quen thuộc: đi ăn, đi cà phê, đi chơi. Đây là buổi học 60 phút, có sẵn trình chiếu và ghi chú theo từng trang, có thể điều chỉnh cho học viên từ A2 đến B2. Gói 01 còn có năm tình huống khác, cũng xoay quanh những lúc người học nói đúng từ nhưng vẫn dễ dùng lời không phù hợp với hoàn cảnh.
Nếu bạn muốn dạy chủ đề này, trúng vào lỗ hổng của người nước ngoài học tiếng Việt mà không phải tự dựng cả buổi từ đầu, bạn có thể xem Gói 01 ở đây.
Hồng Diễm
Từ dạy ngôn ngữ đến hiểu con người
Đọc thêm: “Đi ăn đi” hay “đi ăn nhé”: hai câu tưởng song sinh, mà sao cảm giác lại khác hẳn? · Vì sao người Việt cái gì cũng “tùy”? · Cách dạy từ vựng tiếng Việt cho người nước ngoài để học viên nhớ lâu và dùng được
Nguồn: Lương Ngọc Khánh Phương (2017). “Đặc điểm hành chức của nghi thức lời nói trong sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.” Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TP.HCM, 14(5), 84–92. · Eslami, Z. R. (2010). “Refusals: How to develop appropriate refusal strategies.” Trong A. Martínez-Flor & E. Usó-Juan (chủ biên), Speech Act Performance (tr. 217–236). John Benjamins.
