NHỮNG HỌC VIÊN “DỄ THƯƠNG” NHƯNG GV VẪN NÊN TỪ CHỐI
Khó chịu, hay phàn nàn, thiếu tôn trọng… thì đương nhiên là nên từ chối ngay và luôn rồi. Nhưng có những học viên dù rất…

Buổi cuối khóa IPS 16 tại Nha Trang, kim đồng hồ đã đi qua giờ tan lớp từ lâu. Cả phòng thấm mệt. Có người tựa lưng vào ghế, có người đã gấp sổ, tay đặt hờ lên chiếc balo dưới chân. Riêng thầy vẫn đứng đó, giọng chưa hạ xuống một nấc, mắt vẫn dõi theo từng người như thể buổi học chỉ vừa mới bắt đầu.
Tôi ngồi dưới, lặng đi.
Trước khi tới Nha Trang, tôi chỉ quen với lớp học và những trang giáo án. Mười bảy năm đứng lớp dạy tiếng Việt, tôi tưởng mình đã hiểu thế nào là tận tâm với nghề: soạn bài kĩ, đến lớp đúng giờ, không để học viên nào bị bỏ lại phía sau. Nhưng tối hôm ấy tôi mới thấy có một cách làm nghề khác, ở một tầng sâu hơn tôi từng biết.
Thầy không nói cho hết giờ. Thầy nói cho tới khi người nghe nhận đủ. Sức bền ấy không nằm ở kĩ thuật đứng lớp. Nó đến từ một chỗ khác trong con người, chỗ mà lúc đó tôi chưa biết gọi tên.
Tôi ngồi lại rất lâu sau khi buổi học khép lại. Có một điều vừa được trao, rất thật, rất rõ, mà tôi chưa đủ chữ để gọi ra. Đó không phải một mẹo dạy học hay một chiêu bán hàng. Đó là cách một con người chọn để làm nghề, và chịu trách nhiệm tới cùng với lựa chọn đó.
Phải một thời gian sau, khi mang những điều học được về ứng dụng vào chính nghề của mình, tôi mới dần gọi được nó thành tên. Bài viết này là hành trình gọi tên ấy, và là lời tôi biết ơn người đã trao cho tôi điều đó.
Người tôi vừa nhắc đến là thầy Phạm Thành Long.

Thầy vốn là luật sư sở hữu trí tuệ, người sáng lập Công ty Luật Gia Phạm từ năm 2001. Nếu chỉ dừng ở đó, tên thầy đã đủ đứng vững trong nghề luật. Nhưng năm 2013, thầy rẽ sang một con đường khác: làm diễn giả, làm nhà đào tạo về phát triển bản thân và phát triển kinh doanh, rồi trở thành nhà đào tạo có số lượng học viên đông nhất Việt Nam. Rất nhiều doanh nhân và người làm nghề đã đi qua các lớp của thầy. Tôi là một người trong số đó, và tôi đến với thầy từ phòng học chứ không phải từ thương trường.
Ở khóa ấy, tôi không chỉ nghe thầy giảng.
Tôi nhìn cách thầy sống.
Với tôi, một người thầy đáng tin là người mà bài giảng và đời sống không tách làm hai. Có nhiều người nói hay hơn cách họ sống. Thầy Long thì ngược lại: thầy sống trước, rồi những điều thầy dạy chỉ là kể lại chính cái mình đang làm.
Thầy hay nói cơ thể chính là doanh nghiệp đầu tiên mỗi người phải quản trị cho tốt. Câu ấy dễ trôi qua như một câu nói hay, nếu người nói không sống bằng nó. Thầy thì sống bằng nó thật. Thầy đi bộ xuyên Việt, có chuyến còn không mang theo một đồng, tin rằng nơi đâu trên đất nước này cũng có một mái nhà sẵn lòng cho mình dừng chân. Thầy đạp xe dọc dải đất hình chữ S. Thầy thi những cự li triathlon. Thầy quản trị cơ thể mình bằng chính đôi chân và sức bền, chứ không phải bằng một khẩu hiệu treo trên slide.
Cho nên những điều tôi kể dưới đây không phải lí thuyết tôi chép trong sổ. Đó là những điều tôi thấy thầy sống, rồi mới hiểu, rồi mới mang theo.
Bài học lớn nhất tôi mang về không phải một chiến thuật bán hàng. Nó là một mệnh đề buộc tôi phải xếp lại thứ tự trong đầu tôi.
Thầy có một câu nói lái tôi nhớ tới tận bây giờ: Hiến tài thì mới hái tiền. Trước đó tôi vẫn nghĩ theo chiều ngược lại. Muốn có thu nhập thì lo tìm học viên cho nhanh, dạy sao cho đủ lớp, xoay xở đủ đường. Thầy lật ngược trật tự ấy. Muốn hái được quả, trước hết phải có cái tài đủ dày để đem hiến. Cho giá trị trước, còn phần đền đáp đến sau như một hệ quả, chứ không phải cái đích để mình chạy theo.
Điều làm tôi tin không nằm ở câu chữ, mà ở chính đường đi của thầy. Một người đã dựng được chỗ đứng vững trong nghề luật, vậy mà rẽ sang đứng lớp, đem cái mình biết trao lại cho người khác. Không ai bắt thầy làm thế. Thầy chọn đặt cái tài của mình ra trước, rồi tin phần còn lại sẽ tới.
Tôi ngồi nghe, chững lại một lúc. Hóa ra bấy lâu tôi vẫn đi ngược: lo hái, trong khi tay chưa có gì thật sự đáng để đem hiến. Câu nói ấy nghe qua tưởng là chuyện chơi chữ cho vui, vậy mà nó đảo lại cả cách tôi nhìn công việc. Thay vì hỏi làm sao để nghề này nuôi được mình, tôi bắt đầu hỏi: mình đã đủ dày để nghề này đáng được nuôi chưa?
Bài học đầu tiên là cách kiếm sống tử tế. Hai điều còn lại thầy không giảng thành bài. Chúng ngấm qua cách thầy sống, và tôi nhặt được từng chút.
Điều thứ nhất: muốn nâng tầm sự nghiệp thì phải nâng tầm chính mình trước.
Sự nghiệp lớn tới đâu là do con người mình lớn tới đó. Muốn một kết quả khác, bản thân phải khác đi trước đã. Ở khóa ấy tôi không chỉ học kinh doanh online, học cách gây dựng và trao đi tri thức của mình trên nền tảng số. Tôi học cách tự lớn. Và thầy sống đúng điều đó: mỗi lần thầy tự đặt cho mình một việc khó, một cung đường dài hơn sức mình vẫn quen là một lần thầy nới rộng giới hạn của bản thân, để rồi nới rộng được những gì mình làm.
Điều thứ hai: làm thật, và trung thực.
Bền bỉ thôi chưa đủ. Thầy dạy tôi phải nghĩ cho lợi ích của người học trước cái lợi trước mắt của mình, vì sự tử tế và trung thực mới là nền của uy tín lâu dài. Chính vì thế, trong hệ sinh thái Tiếng Việt Sống, tôi tách bạch hai thứ người ta hay trộn làm một: kết quả và giá trị. Tôi không hứa kết quả. Tôi không nói cứ theo tôi là chắc chắn thành nghề, chắc chắn có thu nhập cao, bởi kết quả còn nằm ở tay người học, ở nỗ lực của họ và cả những điều không ai gọi tên trước được. Nhưng giá trị của cái mà tôi trao thì tôi đứng sau tới cùng. Cái tôi đặt vào tay mỗi giáo viên là một phương pháp có hệ thống, tôi đã dạy thật và tin đến tận cùng. Đó mới là điều thầy khắc vào tôi: chính vì tin chắc chắn vào giá trị thật của thứ mình cho đi, mình mới không cần tô vẽ nó bằng những lời hứa hẹn mà mình không giữ nổi.
Tôi không bê nguyên mô hình kinh doanh của thầy về nghề mình. Cái tôi mang về là tinh thần làm nghề rồi tự dịch nó sang ngôn ngữ của người đào tạo giáo viên.
Cho đi trước, với tôi, là không giữ nghề. Tôi không dạy các giáo viên của mình vài mẹo tìm học viên cho nhanh, mà tôi chọn bồi cái gốc: nội lực chuyên môn và phông văn hóa của từng người.
Tôi vẫn hay kể cho các giáo viên của mình nghe về một học viên người nước ngoài. Anh sang Việt Nam làm việc, tiếng Việt đủ để đi siêu thị, gọi món, hỏi đường. Vậy mà có lần được mời đến nhà đồng nghiệp ăn cơm, anh từ chối ngay lần mời đầu vì bận thật, rồi ngơ ngác không hiểu sao cả nhà kia lại có vẻ chạnh lòng. Anh nói đúng theo sách: được hỏi thì trả lời thật. Anh không biết rằng trong nhà người Việt, lời mời cơm nhiều khi phải mời tới ba lần, và cái từ chối thẳng băng ngay lần đầu lại làm người mời hụt hẫng. Ngữ pháp của anh không sai một chữ, nhưng cái mà anh thiếu lại nằm ngoài ngữ pháp.
Tôi kể chuyện đó để các giáo viên của mình hiểu: một người dạy tiếng Việt mà giảng được vì sao ta mời cơm tới ba lần, vì sao ta gọi nhau bằng chú, bác, cô, dì chứ không gói tất cả vào một chữ “bạn”, sẽ đứng lớp vững hơn nhiều so với người chỉ thuộc dăm thủ thuật lên lớp.
Đó là lí do tôi trao cho họ cả một phương pháp có hệ thống, gọi tên là Tiếng Việt Sống, thay vì rỉ ra từng miếng để người học phải quay lại xin thêm. Phương pháp ấy dựng trên một trục tôi tin đến tận cùng: ngôn ngữ, văn hóa, lối sống, ba tầng nối liền nhau. Tiếng Việt không đứng một mình. Tiếng Việt chỉ thật sự sống khi nằm trong văn hóa Việt, và văn hóa ấy phải chạm được vào cách người ta sống mỗi ngày.
Nâng tầm mình trước, tôi cũng phải tự làm với chính mình. Tôi đi học kinh doanh, học marketing, học tư duy lại về công việc mình từng đinh ninh là đã thành thạo. Có những buổi tôi ngồi trong lớp mà thấy mình vụng về như người mới, dù bên ngoài người ta vẫn quen gọi tôi là cô giáo có nghề. Ở cái tuổi đã quen đứng trên bục giảng, tôi ngồi lại xuống hàng ghế học viên, và học lại từ đầu.
Còn trung thực thì đó là điều tôi giữ chặt nhất. Tôi nhận đào tạo một người là nói thẳng người ấy còn thiếu gì, mất bao lâu mới dạy được, chứ không vẽ ra một con đường trải hoa. Tôi không hứa hẹn, không bán những gì mình không thật sự tin. Với tôi, đó không phải một dòng khẩu hiệu đẹp để in lên trang giới thiệu. Đó là cách để mỗi sáng thức dậy, tôi còn thấy quý cái nghề mình đang làm, và còn dám nhìn thẳng vào mắt người vừa trao niềm tin cho mình.
Buổi cuối ở Nha Trang tan từ lâu rồi. Nhưng cái điều tôi ngồi dưới mà chưa gọi được thành tên hôm đó, giờ tôi đã gọi được.
Không phải một chiêu bán hàng, cũng không phải công thức kiếm khách. Nó là một cách làm nghề.
Điều tôi biết ơn thầy nhất không phải là cách kiếm sống. Nghề dạy đã nuôi tôi nhiều năm trước khi tôi biết đến thầy. Thầy trao cho tôi thứ khác: một chỗ đứng để nhìn lại nghề mình mà không thấy hổ thẹn. Câu nói lái của thầy, hiến tài thì mới hái tiền, tôi mang theo tới tận bây giờ, mỗi lần ngồi soạn một khóa đào tạo giáo viên, mỗi lần bắt tay vào làm một việc gì đó.
Tôi không hứa với thầy bằng lời nói. Tôi hứa bằng việc mình làm mỗi ngày: luôn là người cho đi nhiều hơn trong nghề của mình, và truyền lại đúng tinh thần ấy cho những giáo viên được tôi đào tạo.
Cái thầy truyền cho tôi chỉ thật sự sống khi nó đi tiếp qua cuộc đời người khác. Một bài học giữ khư khư cho riêng mình rồi cũng chết dần, hệt như một thứ tiếng không còn ai nói.
Nếu đọc đến đây, bạn thấy mình muốn làm nghề tử tế hơn, muốn cho đi trước khi nghĩ đến phần nhận, thì cái mà thầy trao cho tôi đã đi thêm được một chặng rồi. Với tôi, thế là đủ.
Cảm ơn thầy, vì đã dạy em điều lớn hơn một cái nghề.

Tôi là Hồng Diễm.
Hơn mười bảy năm dạy tiếng Việt, phần lớn thời gian ấy tôi dạy người học. Bây giờ công việc của tôi khác: tôi đào tạo giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.
Tôi tốt nghiệp chuyên ngành Ngôn ngữ học – đại học KHXH&NV, và là tác giả của phương pháp Tiếng Việt Sống: cách dạy đặt tiếng Việt vào trong văn hóa Việt thay vì tách rời nó ra.
Điều tôi theo đuổi lớn hơn một nghề. Tôi muốn tiếng Việt và văn hóa Việt được mang ra khỏi biên giới đất nước mình: mỗi người nước ngoài không chỉ nói được tiếng Việt mà còn hiểu được người Việt, hiểu cái tình trong một bữa cơm, một tiếng chào, là thêm một cánh cửa Việt Nam mở ra ở một xứ sở khác. Muốn đi xa như vậy, nghề dạy tiếng Việt không thể là việc ai biết tiếng Việt cũng làm được; nó phải được nâng thành một nghề có chuẩn, có chiều sâu. Đó là lí do tôi chọn đào tạo giáo viên: mỗi người thầy vững nghề là thêm một người đưa ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam đi xa hơn nữa.
Tôi mong tới ngày tiếng Việt được dạy cho người nước ngoài với chiều sâu như người ta vẫn dạy tiếng Pháp, tiếng Nhật, không phải một thứ tiếng lạ lẫm khó khăn mà một nền văn hóa đáng để bước vào.
Có một quãng tôi chỉ biết dạy mà không biết gây dựng sự nghiệp cho chính mình. Người dạy tôi bước qua ranh giới đó là thầy Phạm Thành Long, và tôi trưởng thành rõ nhất sau khóa IPS 16 của thầy ở Nha Trang vừa rồi.
Bài này là lời biết ơn của tôi gửi đến thầy, viết với tư cách một người trò nhỏ.
Hồng Diễm
Người sáng lập phương pháp Tiếng Việt Sống
Từ dạy ngôn ngữ đến hiểu con người.
Mình có một món quà cho bạn: cuốn sổ tay nền tảng nghề, rút ra từ lớp học thật.
Nhận quà tặngKhó chịu, hay phàn nàn, thiếu tôn trọng… thì đương nhiên là nên từ chối ngay và luôn rồi. Nhưng có những học viên dù rất…
Trial lesson chưa bao giờ là chỗ để đậu hay rớt. Nó là chỗ hai người ngồi xuống để trả lời một câu hỏi: chúng ta…
Chắc câu hỏi phổ biến nhất trong các Group giáo viên tiếng Việt hiện nay là: “Nghề dạy tiếng Việt có tương lai không?” Nhưng sau…