Giúp giáo viên tiếng Việt nhận ra mình đang đứng ở đâu,trước khi học thêm bất cứ thứ gì
Có một câu mình nghe đi nghe lại suốt nhiều năm nay.
"Cô ơi, em cứ thấy mình thiếu một cái gì đó."
Điều làm mình để ý là câu ấy hiếm khi đến từ giáo viên mới. Nó đến từ người đã dạy một thời gian, có học viên, đôi khi cũng được học viên khen ngợi. Vậy mà một tối nào đó họ vẫn nhắn cho mình đúng câu hỏi ấy.
Mỗi người lại giải thích cảm giác “thiếu” đó một kiểu. Người bảo do mình thiếu kinh nghiệm. Người nghĩ chắc vốn tiếng Anh chưa đủ. Người tự nghi ngờ hay là do mình không biết cách giải thích cho học viên. Người thì lao đi sưu tầm hết tài liệu này đến tài liệu khác…
Mình không thấy lạ vì những lời tự giải thích ấy. Ở vị trí của họ, có lẽ mình cũng nghĩ y như vậy.
Nhưng điều làm mình để ý nằm ở chỗ khác.
Đó là bao nhiêu năm rồi, rất nhiều giáo viên vẫn đang đi tìm cùng một câu trả lời. Chỉ có điều mỗi người tìm ở một nơi. Người tìm trong giáo trình. Người tìm trong phương pháp. Người tìm trong kinh nghiệm. Người tìm trong chính mình.
Ban đầu nhiều người nghĩ chắc nghề nào cũng vậy. Đi làm lâu thì sẽ vững, dạy nhiều thì sẽ tự tin, đọc thêm tài liệu thì sẽ bớt chông chênh. Nghe rất hợp lí.
Nhưng rồi mình gặp những người dạy đã cả năm, cả mấy năm mà vẫn nói: "Em vẫn thấy mình thiếu một cái gì đó, mà không gọi tên được."
Lúc ấy mình mới bắt đầu tự hỏi. Và câu này, mình hỏi bạn một cách thành thật:
Có bao giờ bạn nhận ra cái mà bạn đang thiếu là một cái khác hẳn, chứ không phải là mấy thứ bấy lâu nay bạn vẫn đi tìm không?
Cuốn sách này mỏng thôi, nhưng nó sẽ làm một việc giúp ích cho bạn mãi mãi: đi tìm cho ra cái "thiếu một thứ gì đó" ấy, chính xác nó là gì.
Đến khi gấp trang cuối, nếu bạn gọi được đúng tên cái thiếu ấy, thì cuốn sách đã làm xong việc của nó rồi.
Giáo viên rất hiếm khi nói ra đúng vấn đề của mình. Không phải vì bạn che giấu, mà vì thật ra chính bạn cũng không biết vấn đề mình đang mắc ở đâu.
Mỗi lần có bạn nhắn cho mình, câu chuyện luôn bắt đầu bằng một nỗi lo rất cụ thể. "Em sợ học viên hỏi nhiều." "Em bí giáo án." "Em không dám nhận trình độ cao." "Em không tự tin."
Nghe từng câu riêng lẻ thì đó có vẻ là bốn vấn đề khác nhau. Nhưng nghe lâu rồi, mình lại thấy một chuyện rất lạ.
Người lo vì thiếu giáo án cũng chính là người lo vì thiếu kinh nghiệm. Người nghĩ mình thiếu kinh nghiệm lại hay nói mình thiếu tự tin. Còn người bảo mình thiếu tự tin thì thường là người học nhiều nhất mà không dám làm.
Lúc đầu mình không hiểu. Nếu vấn đề thật sự của các bạn là giáo án, thì chỉ cần có giáo án là xong. Nếu chỗ bị vướng là kinh nghiệm, dạy thêm vài năm sẽ ổn. Nếu bị mắc ở kĩ thuật, đọc một số tài liệu là giải quyết được.
Mà thực tế thì không!
Có người tải đầy máy các loại giáo án, vậy mà tối nào cũng phải vắt óc nghĩ xem mai dạy gì. Có người dạy 3 năm rồi mà gặp một học viên giỏi phản biện một câu là tim vẫn đập nhanh thon thót. Có người sưu tầm đủ thứ tài liệu, thấy tài liệu ở đâu là xin về, mà mỗi khi gặp tình huống mới vẫn không biết xử lí ra sao, vẫn phải tự mình xoay xở.
Có lần mình hỏi một bạn giáo viên: "Em thấy điều gì làm em mệt nhất?"
Bạn ấy trả lời không cần đắn đo: "Là em lúc nào cũng có cảm giác bất an, còn thiếu."
Mình hỏi tiếp: "Thiếu gì?"
Bạn ấy im, rồi cười. "Thật ra… em cũng không biết. Chỉ biết là thiếu cái gì đó thôi."
Cuộc trò chuyện ấy mình nhớ rất lâu. Vì tới lúc đó mình nhìn thấy càng rõ: điều khiến nhiều giáo viên mệt nhất không phải là thiếu, mà là không biết mình đang thiếu gì.
Không biết thì bạn thử mọi cách. Thấy người ta học phương pháp thì học theo. Thấy ai bán giáo trình hay thì hỏi mua. Thấy ai chia sẻ hoạt động thì lưu về… Làm rất nhiều, học cũng rất nhiều, nhưng cảm giác chông chênh thì vẫn nằm nguyên đó.
Rồi lần sau nó quay lại, chỉ đổi khác cái tên.
Hôm nay nó tên là “thiếu tự tin”. Mai nó tên là “bí giáo án”. Tuần sau nó tên là “ngại nhận học viên giỏi”. Tháng sau nó tên là “chắc mình không hợp với nghề”.
Đáp lại câu hỏi "Rốt cuộc mình đang thiếu cái gì" của các bạn giáo viên, mình hỏi lại một câu khác:
Tại sao cái thiếu ấy cứ đổi tên hoài vậy?
Có lần trong một buổi đào tạo khoá K02, một bạn giáo viên nói: "Cái mà em còn thiếu thì em hiểu ý cô truyền đạt, nhưng em vẫn chưa hình dung ra nó thật cụ thể."
Mình không trả lời ngay. Đưa ra một định nghĩa thì dễ, mà định nghĩa kiểu lí thuyết thì chẳng giúp ai nhìn thấy được gì hết.
Mình hỏi lại: "Em đang ngồi trên cái gì?"
Bạn ấy nhìn quanh, hơi ngơ ngác: "Cái ghế ạ."
"Cái ghế đứng trên gì?"
"Trên sàn nhà."
"Một ngày em để ý cái sàn mấy lần?"
Bạn ấy bật cười. "Chắc… chưa bao giờ cô ơi."
Đấy!
Mình hiếm khi để ý tới thứ gì bên dưới đang đỡ mình. Ghế lung lay thì mình cúi xuống xem chân ghế. Sàn bị lún thì mình vẫn chỉ thấy là cái ghế đang lung lay.
Nghề dạy học y hệt vậy, và đây là chỗ oái oăm nhất của nó. Thiếu từ vựng, bạn biết. Thiếu ngữ pháp, bạn cũng biết. Thiếu kiến thức, bạn cũng biết luôn. Nhưng thiếu cái sàn đỡ dưới chân thì bạn lại không biết. Bạn chỉ nhìn thấy những thứ bị lung lay ở phía trên ngọn, rồi lo đi sửa chúng.
Sửa xong cái này, buổi sau lại lung lay cái khác.
Mà nào có ai bảo cho bạn biết là nghề này phải có một cái sàn. Không trường lớp, không lộ trình, không ai nói: trước khi học cách dạy một bài, mình cần biết nghề này đang đứng trên những cái gì đã. Bạn bước vào lớp bằng vốn tiếng Việt của người bản ngữ, bằng lòng yêu nghề, bằng vài cuốn giáo trình có sẵn, rồi vừa dạy vừa tự mày mò học.
Bạn đọc đến đây có thấy giống lớp học của bạn không? Thấy lớp im lặng thì thêm trò chơi. Thấy học viên không nói thì học ice-breaker. Thấy bí bài thì đổi giáo trình. Thấy học viên hỏi khó thì đi tìm thêm tài liệu.
Mỗi lần gặp một vấn đề, bạn lại xây thêm một tầng. Nhìn từ bên ngoài thì căn nhà mỗi năm một cao. Chỉ là chẳng ai cúi xuống xem kĩ lại cái móng.
Năm phần dưới đây là năm lần mình mời bạn soi lại đúng một buổi dạy của bạn, xem cái đang lung lay ở đó thật ra bắt nguồn từ đâu. Thiếu một phần, tạm thời bạn vẫn dạy được, vẫn có thể đi được thêm một khúc.
Chỉ có điều là bạn đi, mà trong lòng rất khó cảm thấy yên tâm.
“Cô ơi, sao gọi 'con dao' mà lại gọi 'cái thìa'? Hôm trước cô vừa dạy “cái” là đồ vật, “con” là động vật mà”.
Mình đem câu này hỏi lại các bạn giáo viên. Phản xạ đầu tiên là có bạn ngẩn ra ngẫm nghĩ, có bạn cười xoà rồi nói: "Người Việt nhiều khi quen nói thế ấy ạ."
Mình cười, vì nhớ lại ngày xưa mình cũng có lần trả lời y như vậy.
Hồi mới đi dạy, những năm 22-23 tuổi, trong tay mình đã có tấm bằng Ngôn ngữ học ứng dụng hệ chính quy. Ai nhìn vào cũng bảo thế là quá đủ để làm nghề. Cho tới hôm một bạn học viên ngước lên thắc mắc: "Cô ơi, sao người Việt nghĩ bằng bụng mà không nghĩ bằng đầu ạ?"
Mình chững lại, hình như lúc ấy miệng nói được một câu gì đó cho qua, mà trong bụng chỉ thầm mong em ấy đừng hỏi thêm gì nữa.
Nhưng câu hỏi ấy không chịu đi. Nó theo mình tới bữa cơm, tới lúc đứng rửa bát, nước chảy ào ào mà bên tai mình vẫn văng vẳng cái đầu với cái bụng. Tối hôm đó mình ngồi xuống với nó, xoáy mãi, xoáy mãi vào câu hỏi, rồi vỡ ra: ngôn ngữ dính vào tâm thức của một dân tộc, người ta nói ra đúng cái mà người ta quan niệm. Giải thích kiểu word by word hay cố sức đi tìm một từ tương đương là hỏng. Đời sống của tiếng Việt nằm trong chính cuộc sống, chứ không bao giờ nằm trong giáo trình.
Từ hôm đó, mình đặt cho cách nhìn ấy một cái tên: Tiếng Việt Sống. Và cũng từ hôm đó, học viên hỏi sâu tới đâu mình cũng không còn phải thầm khấn nữa.
Cái đó, tấm bằng không cho mình. Nó tới vào đúng cái đêm mình chịu ngồi lại với một câu mà mình không trả lời được, ngồi đến khi tìm cho ra.
Lần soi thứ nhất là chỗ đó. Không phải biết nhiều câu trả lời hơn, mà nhìn ra được quy luật chung bên dưới những câu hỏi “vì sao” ấy.
Mình hé cho bạn một góc. Quy luật đằng sau "con dao / cái thìa" chẳng nói gì về dao với thìa cả. Nó nói về cách mà người Việt nhìn thế giới: thứ gì trong mắt mình có sức sống, cựa quậy được thì gọi một kiểu; thứ gì nằm im chịu để cho mình cầm, thì gọi kiểu khác. Con dao sắc, nó cứa được, thái được, gọt được, nó "sống". Cái thìa thì hiền, nó nằm im.
Bạn thử nghĩ mà xem: con thuyền, con sông, con mắt, con đường… tất cả đều có cùng một quy luật. Đâu phải tiếng Việt thiếu logic hay tuỳ tiện như nhiều người dạy vẫn nghĩ?
Thứ vừa sáng lên trong đầu bạn không phải một tips để nhớ. Nó là một mẩu của quy luật. Và đằng sau hàng trăm câu hỏi "tại sao" mà bạn từng phải chống đỡ trả lời cho qua, luôn có những quy luật như thế đang nằm đó.
Trên đời này không có gì là không có lí do hay “người Việt quen nói thế” cả. Chỉ là giáo viên có biết quy luật và bản chất của tiếng Việt là gì để giải thích cho học viên hay không mà thôi.
Hôm nào bạn nhìn ra chúng, không phải một câu được giải, mà là cả trăm câu cùng sáng lên một lượt.
1 tiếng dạy vừa trôi qua êm ru.
Bạn giảng, học viên gật. Bạn hỏi "Hiểu chưa em?", học viên lại gật. Tới chỗ khó thì bạn giải thích thêm lần nữa, chậm hơn, kĩ hơn, học viên ậm ừ lên một tiếng rồi gật. Hết giờ, hai bên chào nhau vui vẻ, hẹn tuần sau.
Một buổi “trôi chảy” như thế thì có gì mà phải sửa.
Rồi mấy hôm sau, học viên nhắn xin dừng học.
Mình thường nói với các bạn giáo viên: lớp học của các bạn lộn xộn chưa bao giờ làm cho mình lo, vì còn nhìn ra chỗ hỏng mà chỉ ra cách chữa. Mình sợ nhất là cái lớp học êm đềm ấy - cái lớp mà chỉ có mỗi giáo viên đang làm việc.
Thử nhớ lại buổi dạy gần nhất của bạn. Ai nói nhiều hơn? Ai vất vả hơn? Sau 60 phút, ai mệt hơn? Nếu cả ba câu đều là bạn, thì vấn đề chính xác nằm ở đó rồi.
Học viên không tiến bộ nhờ nghe cô giáo giảng hay. Họ tiến bộ và nói được nhờ được đặt vào đúng tình huống, được lúng túng một chút, được thử, rồi tự bật ra câu nói của chính mình. Câu mà học viên tự bật ra mới là của họ. Còn câu mà bạn giảng cho học viên nghe rồi gật gật theo, dù hay tới mấy đi nữa cũng không thành của họ được.
Điều oan nhất là những giáo viên hay bị vấp chỗ này thường lại là người tận tâm nhất. Càng thương học viên thì càng muốn giảng cho kĩ, thành ra vô tình bạn lại đang làm hộ mất phần việc của học viên.
Thực ra lúc ấy bạn không chỉ đang giúp họ đâu, mà bạn còn đang tự trấn an chính mình. Nói thêm một chút là trong lòng bạn thấy yên tâm hơn một chút, như thể chỉ cần giảng cho nhiều thì buổi học trông mới “đầy đặn”, không bị học viên chê là ít quá.
Cái soi thứ hai là năng lực chuyển hoá: biến cái mình biết thành cái người ta dùng được.
Dạy tiếng Việt không phải là mình nói cho người ta nghe. Dạy tiếng Việt là làm cho người ta phải nói được.
Buổi tới, bạn thử mang theo đúng một câu hỏi này suốt buổi: Hôm nay, ai là người nói nhiều hơn?
"Học viên bảo người Việt gì mà mới gặp đã hỏi tuổi, hỏi lương, hỏi lấy chồng chưa. Em không biết giải thích sao cô ạ. Em thấy ngượng thế nào ấy."
Lúc ấy chỉ có hai đường. Một là bênh: "Ừ thì người Việt thân thiện, quan tâm nhau ấy mà." Nói xong chính bạn cũng thấy gượng. Hai là hùa theo: "Ừ, người Việt có nhiều thói quen kì lắm em ạ." Nói xong lại thấy có lỗi.
Cả hai đường đều hụt, và nỗi hụt ấy đọng lại. Lần sau, hễ câu chuyện chớm chạm tới văn hoá là bạn lái sang chỗ khác cho nhanh. Bạn quay về với từ vựng và ngữ pháp. Không phải vì bạn thích ngữ pháp hơn, mà vì ngữ pháp cho mình cảm giác chắc chân: đúng là đúng, sai là sai, có sách để tra. Còn văn hoá thì chẳng ai đưa cho mình một đáp án nào cả, nên bạn không biết giải thích văn hoá thế nào cho học viên hiểu được.
Một bạn học viên người Mỹ có lần hỏi với vẻ rất khó hiểu: "Trưa hôm qua em hỏi bạn Việt Nam là đi ăn gì, chị ấy nói 'ăn gì cũng được'. Em chọn một quán, tới nơi chị ấy lại có vẻ không thích. Vậy 'cũng được' nghĩa là được hay không được hả cô?"
Về mặt chữ nghĩa thì "cũng được" rõ ràng là được. Nhưng người Việt mình nghe câu ấy, ai cũng hiểu ngầm rằng nó không hẳn là "gì cũng xong". Nghĩa thật của tiếng Việt không nằm trong từ, mà nó nằm ở tầng dưới của từ.
Mình soi thử cho bạn xem.
Ở tầng đời sống: người Việt quen nhường nhau những chuyện nhỏ, ăn gì, ngồi đâu, đi lối nào.
Ở tầng văn hoá: quyết định thay người khác thì hơi giành phần, mà nói thẳng ý mình lại sợ người ta phải chiều theo, nên người Việt mình đẩy quyền quyết định và trách nhiệm sang cho người kia. Mình gọi đó là giữ ý.
Ở tầng giao tiếp: thành ra "ăn gì cũng được" đâu phải một câu trả lời. Nó là một lời mời: bạn chọn đi, tôi theo.
Ba tầng ấy mình gọi là Tam giác Tiếng Việt Sống: đời sống - văn hoá - giao tiếp.
Thiếu tam giác này thì dù bạn dạy cho học viên đúng ngữ pháp không bắt bẻ vào đâu được, mà họ vẫn nói sai hoàn cảnh, sai vai vế như thường. Họ đi làm, đi uống bia, đi ăn cưới, va vào người Việt hết lần này tới lần khác mà chẳng hiểu vì sao, rồi kết luận một câu mình nghe rất xót: "Người Việt lộn xộn khó hiểu quá, nghĩ một đằng nói một nẻo."
Còn bạn thì mỗi lần lại lùi thêm một bước về phía an toàn, cho tới lúc thành người dạy từ vựng đơn thuần. Mà từ vựng thì Google có, app có, AI có, bạn cạnh tranh thế nào cũng không lại được.
Chỉ biết dạy từ vựng kiểu dịch từng từ là bạn đang thi đấu với cái máy, mà lại chọn đúng cái môn nó không bao giờ thua.
12 giờ đêm.
Cô ấy ngồi trước màn hình, mai có lớp lúc 7 giờ sáng. Mở giáo án hôm qua thì thấy không dùng được, vì hôm qua là kiểu học viên khác, vướng mắc chỗ khác. Thế là lại lên mạng tìm, tải về giáo án của ai đó rồi sửa, bỏ chỗ này, thêm chỗ kia, chắp chỗ nọ. 2 giờ sáng thì cũng xong, cũng tạm. Đặt chuông vài tiếng nữa.
Sáng lên lớp, dạy cũng trôi được một buổi.
Tối mai, 12 giờ đêm, lại y như thế.
Chính cô giáo ấy viết cho mình: "Trật tự soạn giáo án của em thường chắp vá và không hợp lí. Nhiều lúc em thấy như kiểu học viên đang phải ngồi chịu đựng em, mà em thì xấu hổ."
Người viết ra câu ấy không phải người lười. Người lười không thức tới một hai giờ sáng, và người lười thì không xấu hổ. Bạn đang rất chăm chỉ, nhưng là chăm chỉ trên một cái vốn bị rỗng. Mỗi tối bạn bỏ ra ba bốn tiếng, mà ba bốn tiếng ấy chẳng đọng lại để tái sử dụng được một tối nào cả.
Người có nghề thì soạn bài nửa tiếng, một tiếng rồi đi ngủ, vì họ có sẵn tấm bản đồ và quy trình trong đầu rồi, còn bạn thì mỗi tối lại phải vẽ lại con đường cho một buổi dạy từ đầu đến cuối.
Đấy là chỗ soi thứ tư. Trong đầu người dạy có nghề luôn có một lộ trình rất rõ: cái gì dạy trước, cái gì dạy sau, vì sao cần dạy theo thứ tự ấy, học viên đang ở chặng nào, chặng kế tiếp phải làm gì. Nhìn một người mới học là biết xếp vào đâu, chứ không phải mỗi buổi lại tuỳ hứng hay chắp vá, tiện gì dạy nấy.
Bạn có lộ trình rõ ràng này khi dạy học viên không?
Chưa có bản đồ của mình thì bạn buộc phải đi mượn bản đồ của người khác. Giáo trình nào cũng thấy hay, ai chia sẻ gì cũng tải, hoạt động nào cũng lưu lại để dành đấy. Ổ cứng thì đầy dần lên, mà trong đầu lại càng ngày càng rối rắm thêm. Không phải thiếu tài liệu, mà vì bạn chưa có một cái khung vững để biết nên giữ cái gì và bỏ cái gì.
Tối nay, trước khi mở máy tính soạn bài, bạn thử trả lời một câu: học viên của bạn, ba tháng nữa, sẽ làm được điều gì mà hôm nay họ chưa làm được?
Trả lời được ngay thì bạn có bản đồ. Còn nếu bạn phải ngồi im một lúc, thì chỗ im lặng đó chính là cái mà bạn đang thiếu.
Học viên học được mấy buổi rồi tự nhiên im. Nhắn không trả lời.
Không ai giận, không ai chê, không ai nói một lời. Người ta chỉ lặng lẽ huỷ lịch học và rời đi.
Mà cái làm cho bạn bứt rứt không phải chuyện họ nghỉ, người ta có quyền nghỉ chứ. Bứt rứt là ở chỗ bạn chẳng biết họ nghỉ vì cái gì.
Bạn làm một việc mà người có trách nhiệm nào cũng làm: mở giáo án ra xem lại. Bài đúng, chuẩn bị kĩ, dạy thì giảng khản cổ hết lòng chứ đâu có qua loa, chẳng sai chỗ nào cả. Thế là bạn tự trách mình một cách rất mơ hồ, không gọi được tên. Rồi tới học viên sau, bạn cẩn thận hơn, chiều hơn một chút, dễ tính hơn một chút, họ yêu cầu gì bạn dạy nấy, vì sợ làm người ta khó chịu thì họ lại đi mất.
Mà càng chiều theo học viên thì lớp lại ngày càng nhạt, cuối cùng người ta cũng vẫn đi.
Học viên ở lại với một lớp học không phải vì bài hay. Bài hay thì trên mạng có đầy. Lí do học viên ở lại vì họ thấy mình đang được dẫn dắt bởi một giáo viên vững vàng, người biết hôm nay họ đang bị mắc ở đâu, biết lúc nào nên đẩy, lúc nào nên chờ, biết giữ cho buổi học có nhịp và biết kết nối với họ.
Thiếu nó thì bạn từ người dẫn đường biến thành người chiều khách. Mỗi lần chiều theo ý học viên, trong lòng tạm thời yên tâm hơn một chút. Chỉ có điều càng chiều thì bạn càng không còn là người dẫn đường nữa, mà học viên cũng mất luôn lí do để ở lại. Họ bỏ tiền ra để đi theo một người có khả năng dẫn dắt họ, vì tự họ không biết đường đi, chứ không trả tiền cho một người dạy mà ngay cả lộ trình dẫn dắt cũng còn đang mù mờ.
Chỗ soi thứ năm này, gọi tên nó là năng lực dẫn dắt.
Buổi tới, trong lúc học viên đang nói, thay vì nghĩ lát nữa mình sẽ giảng gì, bạn thử tự hỏi hôm nay người này đang mắc ở đâu. Chỉ một câu hỏi thôi, mà nó đổi cả cách bạn ngồi trong lớp.
Có một cô giáo, sau khi nghe mình hỏi câu ấy liền nhắn lại: "Đi dạy mấy năm rồi mà chưa ai hỏi em câu này cô ạ."
Mình đọc xong ngồi buồn mất một lúc. Không phải buồn cho cô ấy, mà buồn cho cái nghề này.
Đọc hết năm phần trên, có thể bạn đang nghĩ bản thân hổng một hai chỗ, còn những chỗ kia thì tạm ổn.
Mình muốn bạn nhìn lại một lần nữa. Vì năm chuyện vừa rồi, nghe thì có vẻ không liên quan gì tới nhau:
Năm chỗ khác nhau, năm nỗi lo khác nhau. Vậy mà lạ chưa, sao gần như cả năm chỗ ấy bạn đều dính?
Để mình kể lại từ đầu. Hôm bạn không trả lời được chữ "vì sao" đầu tiên, có một thứ rất nhỏ đã gãy mà bạn không để ý: bạn không còn tự tin vào chính mình mỗi khi đứng lớp nữa. Mà đứng lớp thì không thể đứng tay không được. Vì không tự tin nên phải bám vào một cái gì đó cho đỡ chông chênh.
Bạn bám vào lời giảng của chính mình, giảng thật kĩ, nói thật nhiều, bí quá thì chuyển sang tiếng Anh cho chắc. Đó là chỗ thứ hai.
Bạn bám vào thứ có đúng có sai rõ ràng, từ vựng, ngữ pháp, cái gì tra được thì dạy, còn văn hoá né được khúc nào thì né, vì chính bạn cũng không biết giải thích thế nào. Đó là chỗ thứ ba.
Bạn bám vào giáo trình, có sách trong tay thì còn biết mai dạy gì, đi hết sách là hoang mang vì bí. Đó là chỗ thứ tư.
Rồi khi học viên bắt đầu rơi rụng, bạn bám vào chính họ. Học viên muốn gì mình dạy nấy, miễn đừng đi. Đó là chỗ thứ năm.
Bây giờ nhìn lại cả năm chỗ một lượt. Bạn có nhận thấy điều gì không?
Năm nỗi lo tưởng khác nhau, hoá ra chỉ là một động tác lặp lại năm lần: bạn với tay ra ngoài, tìm một cái gì đó để bám. Lá chắn nào cũng chỉ che được một lúc rồi rơi, rồi bạn lại phải đi tìm cái khác, giáo trình mới, tài liệu và tips mới, bộ hoạt động mới, cái nào cũng chỉ xài được vài buổi.
Đến đây thì bạn thấy rồi: cái thiếu của bạn không phải là năm cái, mười cái. Nó chỉ có một.
Gọi tên rõ ràng thứ làm cho bạn luôn cảm thấy thiếu thiếu bứt rứt trong lòng, đó chính là NỀN TẢNG.
Bạn chưa có một cái nền tảng vững vàng của riêng mình để đứng.
Cần một chỗ để bám thì chẳng có gì ngại ngùng cả. Ai cũng cần một điểm tựa, người dạy có nghề cũng cần điểm tựa, chứ không phải họ không cần.
Nhưng người dạy có nghề thì không đi tìm điểm tựa ở bên ngoài như giáo trình, trò chơi, hoạt động lớp... Họ dựa chắc chắn trên chính nền tảng mà họ đã bỏ công xây.
Bạn đã đi tìm cái thiếu đó suốt bao nhiêu năm, tìm rất chăm chỉ. Nhưng có điều là bạn toàn tìm ở bên ngoài.
Vì từ khi mới vào nghề đến nay, gần như chưa từng có ai chỉ cho bạn biết là bên trong nghề này có một cái nền phải xây cho vững.
Chuyện này, nói thẳng thắn thì không ai bắt bạn phải thay đổi cả.
Bạn hoàn toàn có thể cứ dạy như bây giờ. Vẫn có một vài học viên, vẫn được người ta gọi là cô giáo, vẫn có người cảm ơn bạn tử tế. Nghề này rộng lượng thế đấy, nó không từ chối ai ngay từ bước đầu cả. Nó vẫn cho phép người ta vào, đi được một đoạn, rồi mới để người ta phát hiện ra mình không có phương hướng.
Nó không lấy của ai cái gì một lần cho dứt điểm, mà nó lấy dần.
Tháng này bạn trì hoãn một lớp trial lesson, rồi tự an ủi khi nào cảm thấy chắc tay hơn sẽ bắt đầu. Tháng sau bạn để câu đề xuất tăng học phí dâng lên tới môi rồi cuối cùng lại không dám nói. Tháng sau nữa có người rủ bạn nhận một lớp khó, bạn từ chối với lí do dạo này mình đang bận…
Bị thất thoát từng cái một, nhìn qua thấy có vẻ không đáng gì, nhưng thực tế nó cộng dồn lại. Mấy năm sau bạn mới nhìn thấy, trong những năm tháng dạy theo kiểu tạm bợ bấp bênh ấy, bạn đã đánh rơi mất dọc đường không biết bao nhiêu cơ hội, mất đi những phiên bản mới của chính bạn, chỉ vì không có một cái nền.
Có thể đã có ngày bạn đủ khả năng nhận một học viên trình độ cao, học phí xứng đáng, nhưng bạn từ chối không dám dạy.
Có thể đã có ngày bạn đủ sức mở workshop, nhưng bạn không mở vì không thấy tự tin.
Có thể đã có ngày bạn đủ sức thành giáo viên chuyên nghiệp, nhưng rồi bạn đành chọn tiếp tục làm gia sư, dạy kèm vài buổi ở phân khúc thấp.
Đó là cái giá.
Không phải tiền, mà là cuộc đời nghề nghiệp bị thu nhỏ lại.
Có một điều mình muốn bạn dừng lại nghĩ thật kĩ.
Ba năm đứng lớp và ba năm tích luỹ nghề là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
Mình biết nhiều giáo viên nhìn số giờ đi dạy để tự an tâm: "Mình cũng dạy được nhiều giờ mà. Thêm vài năm nữa là sẽ vững."
Nhưng nghề này không vận hành theo kiểu cứ dạy lâu là tự khắc trở thành giáo viên chuẩn như vậy.
Một giờ đứng lớp chỉ trở thành một giờ kinh nghiệm khi sau giờ đó, bạn nhìn ra được mình làm đúng điều gì, sai điều gì, vì sao nó xảy ra, và lần sau mình cần cải thiện ở đâu. Rất rõ, không mông lung mơ hồ.
Còn nếu mỗi buổi dạy chỉ là xoay xở cho xong, rồi ngày mai lại tiếp tục phải xoay xở theo đúng cách cũ, thì điều được tích luỹ lại sau nhiều năm đi dạy không phải là nghề đúng nghĩa, mà chỉ là một thói quen.
Bạn có thể dạy ba năm theo cùng một cách, mà nếu cái cách ấy đã lệch và thiếu nền tảng ngay từ đầu, thì ba năm chỉ là một vòng lặp lại những sai lầm không rõ nguyên nhân từ gốc.
Có một bạn trước đây đã từng đi dạy 1.500 giờ, nhưng khi mình hỏi đến thì bạn vẫn mông lung với những điều rất cơ bản. 1.500 giờ ấy từ đầu đến cuối chỉ dạy bằng cảm tính và phỏng đoán, nó không tự biến thành 1.500 giờ kinh nghiệm năng lực, chỉ là 1.500 lần lặp lại cùng một cách làm.
Đó là lí do những người có nền tảng mới đi dạy một năm mà càng ngày càng vững. Còn có những người đã đứng lớp 5 năm, 10 năm, nhưng mỗi khi học viên hỏi một câu ngoài dự kiến, trong lòng vẫn thấy chông chênh như ngày đầu.
Khác biệt chưa bao giờ nằm ở số năm đi dạy.
Khác biệt nằm ở việc, trong từng năm ấy, bạn đang xây nghề từ gốc, hay chỉ đang cố giữ cho buổi học hôm nay đừng đổ?
Đến đây có lẽ sẽ có một câu hỏi bật lên trong đầu bạn.
“Nếu tự học, tự mày mò mãi vẫn không ra, đọc bao nhiêu tài liệu, xem bao nhiêu video, tải bao nhiêu giáo án về máy, mà vẫn chông chênh và mông lung y như cũ … thì rốt cuộc phải làm thế nào?”
Nguyên nhân vì tất cả những thứ bạn đang tích luỹ lại từ trước đến nay đều là những mảnh vụn chắp vá, góp nhặt được ở khắp nơi đem về, ráp lại thành một đống khập khiễng, cuối cùng vẫn là không có nền tảng. Đến lúc đem ra xài thì mới thấy hổng chỗ này, hụt chỗ kia, vá chỗ nọ.
Có lần, trong một nhóm giáo viên, một bạn trẻ đăng lên nói đang bí ý tưởng, dạy hết sách rồi, giờ xin tài liệu để dạy tiếp cho học viên. Bên dưới, bao nhiêu người khác cũng vào xin theo.
Mình liền hỏi em giáo viên ấy:
"Em định cứ long đong đi xin giáo án, xin ý tưởng như thế đến bao giờ, mãi cả đời được sao em? Rồi mai kia không còn ai rảnh mà chỉ cho nữa, cả group chẳng ai buồn trả lời…, lúc ấy em tính thế nào? Thử nghĩ xem, học viên đang ngồi trước mặt, chờ cô giáo dạy, còn cô giáo thì lại đang chờ một người khác chỉ cho mình phải dạy cái gì. Cứ thế hết buổi này sang buổi khác. Khó bền lắm em à."
Cái nín thinh của em ấy như ngầm thừa nhận một sự ngược đời. Đã nhận mình là giáo viên, là người đứng ra dẫn dắt người khác đi, vậy mà tới bài vở của chính mình lại phải chờ người khác dọn sẵn mới đem ra lớp, thì làm sao mà vững được?
Cái nền không xây được bằng cách đọc thêm, biết thêm, tham khảo thêm. Những cái đó chỉ có thể cho bạn thêm một thứ nữa để bám níu tạm thời.
Bạn có bao giờ để ý đến cái lưng của mình không?
Cả đời chúng ta nhìn được đủ thứ trước mặt, nhìn rõ tới từng sợi tóc của người ngồi đối diện, nhưng riêng phần lưng của chính mình thì chưa một lần nào mình tự nhìn thấy. Hôm nay vai mình có lệch không, sau gáy áo có xô lên không, mình chịu. Phải có người đứng phía sau nói cho thì mới biết, chứ xoay cổ lại mà tự nhìn thì có cố cách mấy cũng chẳng tự thấy được.
Chỗ bạn đang bị lệch trong nghề cũng y như cái lưng ấy.
Chuyện này đâu riêng gì nghề dạy. Bác sĩ giỏi tới đâu cũng không tự mổ cho mình được. Người bơi cừ nhất vẫn cần một người đứng trên bờ nhìn xuống mới biết mình đang bơi lệch nhịp. Không phải vì họ kém, mà vì có một chỗ trên chính mình, tự mình không bao giờ ngoái tới được. Cái nền tảng của nghề, nó lại nằm đúng ở chỗ đó.
Có một quy luật mình nhận thấy suốt bao lâu nay.
Người tự học một mình, gần như chỉ sửa được đúng cái phần ngọn tự mình nhìn thấy. Còn cái phần khuất sau lưng kia – giống như những “điểm mù nghề nghiệp” - thì cứ nằm nguyên ở đó, năm này qua năm khác mà bạn không hề biết, cho tới khi có một người đứng phía sau chỉ ra cho.
Việc của một người mentor không phải là dạy bạn thêm vài bài hay vài tips nhanh. Vai trò của họ là đứng đúng vào cái chỗ bạn không thể tự nhìn thấy, chỉ ra cho bạn biết hôm nay bạn đang lệch ở đâu, sửa như thế nào, hướng đi ra sao, ngay trên chính từng buổi dạy thật của bạn. Để rồi đến một lúc, bạn tự đi được bằng chính thực lực của mình, không phải suốt đời phụ thuộc vào tài liệu hay giáo án bên ngoài nữa.
Qua vài tháng được đồng hành kèm cặp, rồi có nhiều bạn nhắn: “Cô ơi, em không còn sợ khi học viên hỏi nữa”. Những giáo viên ấy thay đổi và tiến bộ từng ngày, không phải vì biết thêm thật nhiều kiến thức vào đầu. Các bạn ấy thay đổi vì cuối cùng cũng nhìn ra điều mà bao năm nay, tự một mình không hề nhìn thấy.
Không ai xây hộ bạn cái nền ấy được. Nhưng cũng không ai tự nhìn ra nó được một mình.
Ở đầu cuốn sách, bạn mang theo một câu hỏi day dứt: “Rốt cuộc mình đang thiếu điều gì?”
Giờ thì nó đã có tên.
Bạn không thiếu tự tin, cũng không thiếu tài liệu hay nỗ lực.
Bạn thiếu một CÁI NỀN.
Còn cái nền ấy có tự xây một mình được không, mình không trả lời thay bạn. Mình chỉ để lại một câu hỏi:
“Nếu thật sự tự mình xây được nền, thì sau từng ấy năm nỗ lực, vì sao bạn vẫn còn cảm thấy chông chênh như ngày hôm nay?”
Có lẽ câu hỏi của bạn lúc này cũng đã khác rồi.
Không còn là: "Mình phải dùng giáo trình gì?"
Mà là:
"Ai đủ sức chỉ cho mình đúng cái mình không tự nhìn thấy, để mình chấm dứt làm nghề trong cảnh vá víu, chắp vá và thấp thỏm hết năm này qua năm khác?"
Bạn có thể tiếp tục sưu tầm thêm tài liệu, tiếp tục mông lung và mãi phụ thuộc vào người khác. Hoặc bắt đầu tự chủ, xây cho mình một nền móng nghề nghiệp vững vàng.
Còn hành trình xây lại cái nền vững chắc, bạn hãy nghe chính những giáo viên đã đi trước kể lại.
Chuyện thật. Người thật.
→Nghe các giáo viên kể, và xem chương trình đào tạo Tiếng Việt SốngHồng Diễm
Từ dạy ngôn ngữ đến hiểu con người