Chữ “ạ” khi có khi không…
Ai cũng bảo "ạ" là để lịch sự. Nhưng người Việt mình dùng nó theo một cách khác, kín hơn thế nhiều.
Có lần một bạn giáo viên gửi cho mình một tình huống ở siêu thị và hỏi: “Liệu cách nói của mình là đúng hay do thói quen hình thành từ cái sai lâu ngày không được sửa?”
Tình huống là thế này: khách mua đồ, đến lúc tính tiền, nhân viên nói: “Của mình hết 388 ngàn ạ.”
Khách bắt bẻ: “Của mình tức là của chúng ta. Hàng này của tôi chứ đâu phải của em mà nói là của mình?”
Nhân viên xin lỗi. Đến lúc khách đưa 400 nghìn, nhân viên lại theo thói quen nói: “Em nhận của mình 400 ạ.”
Khách tiếp tục sửa: “Em nhận của chị, của cô, chứ không phải của mình.”
Câu chuyện nghe khá buồn cười. Nhưng nếu đặt nó vào lớp học tiếng Việt, mình lại thấy đây là một tình huống rất đáng để giáo viên dừng lại, bởi câu hỏi thú vị không hẳn là “của mình” có đúng không, mà là người nói đang làm gì với cách nói ‘của mình’?
Nếu chỉ nhìn vào nghĩa của từ “mình” thì người khách trong câu chuyện có lí. “Mình” có thể dùng để chỉ bản thân người nói, hoặc trong một số trường hợp là những người thuộc cùng một nhóm. Vậy “của mình” mà nhân viên nói với khách nghe qua thì đúng là có vẻ không khớp với quan hệ sở hữu mà người khách đang nghĩ đến.
Nhưng giao tiếp trong đời sống thực đâu phải lúc nào cũng diễn ra bằng cách lấy nghĩa từ điển của từng từ rồi ghép lại.
Nhân viên nói: “Của mình hết 388 ngàn ạ”, người khách đâu có hiểu rằng nhân viên đang nói: “Đây là món đồ thuộc sở hữu chung của chị và em”, mà họ hiểu ngay: “Tổng tiền của chị là 388 nghìn.”
Vậy nếu người nghe vẫn hiểu được điều người nói muốn truyền đạt, chúng ta có thể hỏi tiếp: Tại sao người nói lại chọn cách nói như vậy?
Đào sâu ngẫm kĩ thì mới thấy “của chị” và “của mình” tuy cùng có thể dẫn người nghe đến cùng một thông tin, nhưng cảm giác giao tiếp mà chúng tạo ra lại có điểm khác nhau khá rõ.
“Của chị hết 388 nghìn ạ”, cách gọi này xác định rõ ràng quan hệ giữa người bán và người mua: em – chị. Còn “Của mình hết 388 nghìn ạ” lại làm cho ranh giới ấy mềm đi, mờ nhoè đi một chút.
“Mình” tạo cảm giác gần gũi, thân thiện và cùng phía, cùng một “phe đồng minh” hơn. Nó không còn nhấn mạnh quá rõ rằng đây là quan hệ người bán – khách hàng, mà đưa hai người vào cùng một không gian giao tiếp gần gũi hơn, thân mật hơn.
Và chính ở đây, mình có thể nhìn thấy một chút “đòn tâm lí” rất tinh tế của ngôn từ tiếng Việt. Khi người đối diện được đặt vào cảm giác “chúng ta thuộc về cùng một phía”, những ranh giới vốn dễ tạo ra đối đầu như tôi và chị, người bán và người mua, bên cung cấp và bên sử dụng… cũng được làm mềm đi. Khi đã có cảm giác cùng hội cùng thuyền, người ta cũng có xu hướng bớt cảm thấy mình đang phải đối đầu với một “bên khác”.

Ngày trước mình từng học về nghệ thuật đàm phán trong kinh doanh và nhớ một chi tiết khá thú vị: trong một số tình huống, người ta khuyên nên sắp xếp không gian để hai bên có thể ngồi cùng chiều hoặc cùng nhìn về một vấn đề, thay vì luôn ngồi đối diện như hai phía đang “đấu” với nhau. Cách bố trí chỗ ngồi ấy có thể làm thay đổi cảm giác của cuộc tương tác: từ cảm giác “tôi đối đầu với anh”, hai người dễ chuyển sang trạng thái “chúng ta cùng giải quyết việc này”. Một số nghiên cứu về đàm phán cũng cho thấy cách tổ chức không gian và sự hình thành rapport có thể ảnh hưởng đến mức độ hợp tác giữa các bên.
Nhớ lại điều đó, mình mới nghĩ: có lẽ chữ “mình” mà cô nhân viên dùng ở quầy tính tiền cũng đáng để nhìn theo cách ấy. Không nhất thiết là cô ấy có chủ ý tính toán trong đầu: “Mình phải gọi khách là “mình” để tạo thiện cảm, biết đâu khách sẽ mua thêm”, mà có thể “mình” chỉ là một cách nói đã trở thành thói quen trong môi trường giao tiếp dịch vụ. Nhưng đúng là nó vô tình (hoặc có thể là qua kinh nghiệm giao tiếp mà thành) làm mềm đi khoảng cách giữa người bán và người mua thật, tạo cảm giác gần gũi và cùng phía hơn.
Cho nên mình gọi nó là một chiến lược giao tiếp. Không phải vì người nói nhất thiết đang ngồi tính toán từng câu chữ, mà vì cách lựa chọn ngôn từ có thể tạo ra một hiệu ứng tâm lí và quan hệ nhất định trong cuộc giao tiếp đó.
Đôi khi, chính những cách nói đã trở thành thói quen, tưởng như sai ấy lại cho thấy rất rõ cách người Việt xây dựng khoảng cách, sự thân mật và quan hệ với nhau trong giao tiếp như thế nào.
Đây cũng là lí do mình thường không muốn giáo viên vội vàng kết luận một cách nói là “sai” chỉ vì nó không giống với điều mình từng học trong sách. Không phải cứ cái gì người Việt nói thường xuyên thì đương nhiên là cách nói chuẩn để đưa vào lớp học, nhưng ngược lại, cũng không phải cứ thấy khác với cách mình đã học trong sách vở thì liền coi đó là một lỗi cần sửa ngay.
Giữa hai việc đúng – sai còn có rất nhiều thứ đáng để nhìn kĩ: Ai đang nói với ai? Trong hoàn cảnh nào? Cách nói ấy khác gì so với một cách nói khác? Nó tạo ra sắc thái gì trong cuộc trò chuyện? Học viên của mình có thực sự cần sử dụng đến nó hay không?
Chỉ khi nhìn được những điều đó, giáo viên mới có cơ sở để quyết định: đây là cách nói cần dạy, cần giải thích, cần lưu ý về ngữ cảnh, hay đơn giản là một cách nói mà người học chỉ cần hiểu khi gặp trong đời sống.
Từ điển có thể cho biết “mình” có những nghĩa nào. Nhưng để hiểu tại sao một nhân viên lại nói “của mình” với khách thì phải nhìn cả tình huống giao tiếp mà câu nói ấy xuất hiện, để xem người Việt đang dùng nó với ai, trong quan hệ nào, với sắc thái gì?
Có lẽ đây cũng là một trong những điều thú vị nhất của nghề dạy tiếng Việt: không chỉ dạy cho học viên biết người Việt nói gì, mà còn giúp họ nhìn thấy vì sao người Việt lại nói như thế. Khi ấy, học viên không chỉ học thêm một nghĩa của một từ, mà sâu hơn nữa là họ bắt đầu học cách người Việt dùng ngôn ngữ để ứng xử với nhau.
Câu chuyện “của mình” vì thế làm mình nhớ đến một điều mà mình thường nhắc các giáo viên ngày trước:
“Khi gặp một cách nói mà mình chưa giải thích được, đừng vội cho đó là sai hay giải thích là “người Việt quen nói thế”. Trên đời này không bao giờ có cái gì là ngẫu nhiên, vô lí, tuỳ tiện hay “vì người Việt quen nói thế” cả. Cái gì xuất hiện cũng đều có lí do của nó hết, chỉ là mình có biết lí do ấy, logic ấy là gì hay không mà thôi.”
Hồng Diễm
Chuyên gia đào tạo giáo viên tiếng Việt cho người nước ngoài | Sáng lập Tiếng Việt Sống
Hơn 17 năm giảng dạy và đào tạo giáo viên. Tốt nghiệp chuyên ngành Ngôn ngữ học, ĐH KHXH&NV – ĐHQGHN.
[Xem hồ sơ chuyên môn →]
Ai cũng bảo "ạ" là để lịch sự. Nhưng người Việt mình dùng nó theo một cách khác, kín hơn thế nhiều.
Đôi khi cả một mối quan hệ nằm gọn trong đúng một chữ ở cuối câu, mà người Việt mình rải ra mỗi ngày không hề để ý.
Ai cũng nghĩ tiếng "dạ" là để lễ phép. Thử bỏ nghĩa đó đi mà nghe lại: một tiếng "dạ" là cách người Việt nhận ra nhau, trước khi nói với nhau.